Tag Archive: Chomsky


Phần cuối: Lý thuyết ngữ pháp tạo sinh

Tái sử dụng những thuật ngữ truyền thống trong một ngữ cảnh mới, lý thuyết mô tả một I-language L đôi lúc được gọi là “ngữ pháp” (grammar)[1] của nó, còn lý thuyết mô tả trạng thái ban đầu S-0 của cơ quan ngôn ngữ FL được gọi là “ngữ pháp phổ quát” (universal grammar – UG). Các nghiên cứu này thường được gọi chung là “ngữ pháp tạo sinh” (generative grammar) vì đó là ngữ pháp quan tâm đến cách làm thế nào một L có thể tạo sinh ra một dãy vô hạn các biểu thức. Nhân tố kinh nghiệm (experience) liên quan đến quá trình chuyển hóa từ S-0 sang L được gọi là “ngữ liệu nguyên cấp” (primary linguistic data – PLD). Một ngữ pháp G của một I-language L được coi là thỏa mãn điều kiện về “thỏa đáng mô tả” (descriptive adequacy) khi và chỉ khi nó là một lý thuyết đúng của L. UG được coi là thỏa mãn điều kiện về “thỏa đáng giải thích” (explanatory adequacy) khi và chỉ khi nó là một lý thuyết đúng của trạng thái ban đầu S-0. Hệ thuật ngữ này được xây dựng nhằm mục đích nói lên một sự thật đó là UG có khả năng giải thích sâu hơn các hiện tượng ngôn ngữ so với G. G cung cấp kiến giải cho các hiện tượng nào đó qua việc miêu tả các thao tác tạo sinh ra chúng; UG thì chỉ ra những thao tác tạo sinh này, cũng như những hiện tượng đi kèm, có thể phái sinh từ PLD bằng cách nào. Ta có thể hình dung S-0 như là một phép ánh xạ (mapping) từ PLD tới L, và UG là lý thuyết mô tả phép ánh xạ trên[2]. Bức tranh lý tưởng này đôi khi được coi là một phần của cái gọi là “vấn đề logic của việc thụ đắc ngôn ngữ” (the logical problem of language acquisition). Còn việc nghiên cứu dụng ngôn (study of language use) sẽ khảo sát cách sử dụng các tài nguyên của I-language để biểu đạt tư duy, mô tả thế giới, trao đổi thông tin, thiết lập các mối quan hệ xã hội .v.v. như thế nào. Về nguyên tắc, loại nghiên cứu này có thể làm sáng tỏ “khía cạnh sáng tạo của việc sử dụng ngôn ngữ”, tuy nhiên, như đã nhấn mạnh ở trên, những chủ đề này dường như vẫn ẩn sau bức màn bí mật giống như đa số bản chất của các hành vi khác.

linguistics11

Bước chuyển sinh-ngôn ngữ học của ngôn ngữ học thập niên 1950 đã làm sống dậy nhiều mối quan tâm truyền thống, tất nhiên với những cách tiếp cận mới và sự trợ giúp của những công cụ học thuật mới, cụ thể như: việc hiểu rõ bản chất các quá trình đệ qui (recursive processes),  các thao tác tạo sinh (generative procedures) tạo ra vô hạn các sự vật (trong trường hợp này là các biểu thức của L) bằng hữu hạn các phương tiện (các cơ chế của L – mechanisms of L). Ngay từ khi chương trình nghiên cứu này mới được khởi động, nó đã khám phá ra rằng, bất kể các bộ ngữ pháp truyền thống hay từ điển có hoàn bị hay tỉ mỉ đến nhường nào đi nữa thì chúng cũng vẫn không đả động tới những câu hỏi hệ trọng nhất về các biểu thức ngôn ngữ. Chúng đơn giản chỉ cung cấp những “chỉ dẫn” để một người nào đó đã được trang bị FL ở một số trạng thái nhất định nào đó sử dụng, mà để ngỏ câu hỏi về bản chất của những hệ thống này. Và rất mau chóng, theo đường hướng mới, một loạt những hiện tượng mới đã được khám phá, song song với những vấn đề mới đang cần được giải thích một cách toàn diện.

Và một vấn đề cũng rất mau chóng được nhận diện đó là căng thẳng rất lớn tồn tại giữa hai mục tiêu tìm kiếm thỏa đáng mô tả và thỏa đáng giải thích. Mục tiêu đầu dường như dẫn đến những hệ thống quy tắc rất rắc rối, thay đổi theo từng ngôn ngữ và từng cấu trúc của mỗi một ngôn ngữ. Tuy nhiên, điều này không thể đúng. Vì rằng, mỗi một ngôn ngữ đều là sản phẩm phái sinh từ một nguồn gốc FL chung tương tác với PLD riêng chứa ít thông tin về các nguyên tắc và các cấu trúc.

Nan đề (dilemma) trên là động lực để các nhà nghiên cứu khám phá ra những đặc tính chung của các hệ thống nguyên tắc được chiết ra từ những ngữ pháp riêng biệt (particular grammars) và đem gán cho UG sao cho phần dư của chúng đủ đơn giản để có thể thụ đắc được trên cơ sở của PLD. Khoảng 25 năm trước, những nỗ lực này cùng tựu về cái gọi là cách tiếp cận “các nguyên lý và tham số” (principles and parameters – P&P). Đây là một bước tiến rất lớn so với cách nhìn nhận truyền thống về ngôn ngữ. Cách tiếp cận P&P không những thoát li khỏi những quy tắc và cấu trúc cấu thành nên khung (framework) ngữ pháp truyền thống mà nó còn quan hệ rất chặt chẽ với ngữ pháp tạo sinh giai đoạn khởi đầu. Theo đó, mệnh đề quan hệ của tiếng Hungary và ngữ động từ của tiếng Nhật có mối tương quan, nói theo cách nào đó, giống như “động vật có vú trên cạn” (terrestrial mammal) với “sinh vật biết bay” (creature that flies). Nguyên tắc để cấu tạo chúng được phân tích (decomposed) thành các nguyên lý của UG áp dụng cho một diện rộng các cấu trúc truyền thống. Một ngôn ngữ riêng biệt L được xác định bằng cách xác lập các giá trị nhất định theo  “các tham số” của S-0: Trung tâm đầu (N-Adj) hay trung tâm cuối (Adj-N)? Phạm trù nào cho phép “trống” – null (ND: hiểu đơn giản là có hình thức cú pháp nhưng không được phát âm)? .v.v. Các tham số nhìn chung đều phải đủ đơn giản để các giá trị có thể được xác lập trên cơ sở các dữ liệu hạn chế và dễ thụ đắc. Thụ đắc ngôn ngữ chính là quá trình xác lập những giá trị tham số này. Các tham số có thể được hiểu như là những “nguyên tử” của ngôn ngữ – nếu dùng ẩn dụ của Mark Baker[3]. Mỗi một ngôn ngữ tự nhiên là một sự sắp đặt những nguyên tử này bằng cách gán giá trị vào các tham số. Các nguyên lý cố định thì luôn có sẵn cho việc cấu tạo các biểu thức dù cho các nguyên tử được sắp đặt trong một I-language riêng biệt như thế nào đi nữa. Như vậy, mục đích chính của chương trình nghiên cứu này là nhằm khám phá ra một thứ tương tự như “bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học”, thứ sẽ giải thích tại sao chỉ một số lượng rất nhỏ các hệ thống ngôn ngữ khả hữu có thể tồn tại và được thụ đắc theo cách thông thường.

Chú ý rằng cách tiếp cận P&P chỉ là một chương trình chứ không phải một lý thuyết cụ thể. Nó là một khung để xây dựng nên các lý thuyết theo những cách thức khác nhau. Nó đã chứng tỏ là một chương trình rất có năng suất, cho ra rất nhiều nghiên cứu trên một diện loại hình học rất rộng, và cũng sâu hơn bất kể giai đoạn nào trước đây. Một kiểu loại các hiện tượng phong phú chưa từng biết đến đã được khai mở, hé lộ nhiều tri kiến mới và cũng đặt ra không ít thử thách với những vấn đề mới. Chương trình này cũng gợi mở nhiều vấn đề mới đáng để nghiên cứu trong địa hạt thụ đắc ngôn ngữ và các địa hạt khác có liên quan. Có lẽ không thể có một giai đoạn nào khác trong lịch sử có thể cho chúng ta nhiều hiểu biết đến thế về ngôn ngữ loài người. Chắc chắn những địa hạt khác có liên quan đến ngôn ngữ cũng như vậy.

Cách tiếp cận P&P, như đã trình bày, hứa hẹn sẽ giải quyết được căng thẳng giữa hai mục tiêu tìm kiếm thỏa đáng mô tả và thỏa đáng giải thích; ít nhất là trên nguyên tắc và đến một chừng mực nào đó trên thực tế. Ngay từ ban đầu, điều này là khả thi, ít nhất trong việc nhìn thấy viễn cảnh một lý thuyết chân chính về ngôn ngữ sẽ dung hòa cả điều kiện về thỏa đáng mô tả lẫn điều kiện về thỏa đáng giải thích. Viễn cảnh này cho phép chúng ta ấp ủ thêm những câu hỏi sâu xa hơn trong cách tiếp cận sinh-ngôn ngữ học, những vấn đề đã được ngầm đặt ra khi nói về ngữ pháp tạo sinh ở trên: làm cách nào để vượt qua ranh giới thỏa đáng giải thích?

Từ lâu người ta đã biết rằng chọn lọc tự nhiên (natural selection) xảy ra theo một “kênh” khả năng được thiết lập bởi các quy luật tự nhiên, và rằng bản chất của các tổ chức sinh học không thể được mô tả chính xác nếu ta chưa nắm bắt được các quy luật của tự nhiên tham gia vào quá trình xác định những cấu trúc, hình thái và đặc tính của chúng. Những nghiên cứu kinh điển về vấn đề này thuộc về D’Arcy Thompson và Alan Turing, những người tin rằng chúng rốt cuộc sẽ là những chủ đề trung tâm của lý thuyết tiến hóa và lý thuyết phát triển các tổ chức sinh học (morphogenesis). Những câu hỏi tương tự cũng xuất hiện trong địa hạt nghiên cứu các hệ thống tri nhận, cụ thể là FL. Khi nào chúng ta có thể trả lời những câu hỏi này, khi đó chúng sẽ vượt qua ranh giới của thỏa đáng giải thích.

9780262531283

Ngày nay, những nghiên cứu làm sáng tỏ những chủ đề trên thuộc về cái gọi là “chương trình tối thiểu luận” (the minimalist program). Việc nghiên cứu UG nhằm xác định đặc tính nào là của ngôn ngữ  và những nguyên lí và tham số của nó là gì, nếu như cách tiếp cận P&P đi đúng hướng. Chương trình tối thiểu luận đặt câu hỏi tại sao ngôn ngữ lại được cấu trúc dựa trên những đặc tính này mà không phải những đặc tính khác. Cụ thể hơn, ta sẽ tìm cách xác định đến mức độ nào thì những đặc tính của ngôn ngữ có thể được phái sinh từ những đặc tính chung của các tổ chức sinh học phức tạp và từ những điều kiện mà FL bắt buộc thỏa mãn để có thể sử dụng được: “những điều kiện giao diện” (interface conditions) được thiết lập bởi các hệ thống vận động cảm giác – “sensorimotor” (SM) và các hệ thống tư duy và hành vi – thường gọi là các hệ thống khái niệm-nội hàm – “conceptual-intensional” (CI). Ta có thể hiểu một I-language như là một hệ thống kết nối SM với CI bằng việc tạo sinh các biểu thức “thích hợp” (legible) với từng hệ thống đó. Những hệ thống này (SM và CI) tồn tại độc lập với ngôn ngữ. Vì những trạng thái của FL là những hệ thống tính toán (computational systems), đặc tính chung của chúng khiến chúng ta quan tâm đặc biệt là những đặc tính liên quan đến việc tính toán hiệu quả. Một luận đề rất quan trọng của tạo sinh luận đó là FL là một lựa chọn tối ưu cho vấn đề kết nối SM với CI, theo nghĩa tự nhiên của sự tính toán tối ưu (optimal computation).

Giống như cách tiếp cận P&P, chương trình Tối thiểu luận cũng chỉ là một khung nghiên cứu để thiết lập các câu hỏi, từ đó để chúng ta đi kiếm tìm những câu trả lời. Trong bối cảnh đó, những câu hỏi vẫn có khả năng bị thiết lập sai hoặc cần phải được xem xét lại. Chương trình này, tương tự những nỗ lực ban đầu, nhằm đi tìm lý thuyết tốt nhất mô tả FL và các trạng thái của nó. Tuy nhiên, những câu hỏi mà nó đặt ra được sắp xếp theo một trật tự khác, khó và cũng hấp dẫn hơn: liệu có khả năng FL và các trạng thái của nó là tối ưu, theo một nghĩa thú vị nào đó? Nếu thật sự như vậy, chắc chắn nó sẽ là một khám phá đầy gợi mở. Trong mấy năm vừa rồi, đã có nhiều nghiên cứu về những chủ đề này từ nhiều góc độ khác nhau và hứa hẹn đạt được nhiều kết quả cũng như, tôi nghĩ, nhiều vấn đề và nghịch lý mới.

Cho tới khi chương trình này thành công, nó sẽ cung cấp nhiều bằng chứng hơn nữa để chứng minh luận đề của Galileo – nguồn cảm hứng của khoa học hiện đại: “tự nhiên là hoàn hảo” (nature is perfect). Chứng minh luận đề đó là công việc của các nhà khoa học, cho dù là bằng nghiên cứu các quy luật chuyển động, hay cấu trúc bông tuyết, hay cấu tạo và sự sinh trưởng của một bông hoa,  hay là hệ thống phức tạp nhất mà chúng ta từng biết đến – não người.

Các nghiên cứu ngôn ngữ 50 năm qua đã gặt hái rất nhiều kết quả và còn hứa hẹn nhiều khám phá thú vị khác ở phía trước, không chỉ trong địa hạt ngôn ngữ học hẹp đã phác thảo ở trên mà còn theo những đường hướng mới với hy vọng thậm chí có một ngày ngôn ngữ học sẽ hợp nhất với thần kinh học – viễn cảnh trêu ngươi đó có lẽ đang ở cuối chân trời.

Noam Chomsky

Institute Professor at MIT


Chú thích:

[1] Xem thêm Trịnh Hữu Tuệ (2003), Chomsky, ngôn ngữ, Quốc Việt…., Talawas. http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=156&rb=06

[2] Hiểu một cách đơn giản, với một hàm số y = f(x) thì ở đây, f là S-0, x là PLD và y là L.

[3] Xem thêm Mark Baker (2001), The atoms of language (Nguyên tử ngôn ngữ), Basic Books.

Phần II: chức năng của ngôn ngữ và cách tiếp cận sinh-ngôn ngữ học

Dù những quan sát đã nhắc ở phần trước không chỉ dựa trực tiếp vào việc nghiên cứu ngôn ngữ tự nhiên, thì người ta vẫn cho rằng FL trên một số khía cạnh hoàn toàn tách biệt về sinh học theo nghĩa nó là một đặc tính giống loài hơn là một tài sản chung của loài người một cách đơn thuần. Đơn cử một khía cạnh rõ rệt nhất, một I-language là một hệ thống sản sinh sự vô hạn trừu tượng, một quá trình tạo sinh (generative process) cho ra vô hạn các biểu thức xét về quy mô (range) cấu trúc, mỗi một biểu thức cấu trúc đi liền với một thực thể âm thanh và ý nghĩa. Những hệ thống sản sinh sự vô hạn trừu tượng là hiếm có trong thế giới sinh học và không tìm thấy ở bất cứ một hệ thống giao tiếp của một loài nào khác ngoài con người. Khi chúng ta nhìn sâu hơn những đặc tính cơ bản nhất của ngôn ngữ tự nhiên, tính chất độc nhất vô nhị của nó càng không cần phải bàn cãi. Trên một số khía cạnh cơ bản, ngôn ngữ tự nhiên nằm ngoài các tiêu chí loại hình tiêu chuẩn thuộc về một hệ thống giao tiếp của động vật. Vì vậy, rất thiếu cơ sở để ức đoán rằng cơ quan ngôn ngữ loài người tiến hóa từ một hệ thống giao tiếp của động vật hoặc cho rằng “chức năng chủ yếu” (“primary function”) của ngôn ngữ là giao tiếp (một khái niệm cho đến nay vẫn không rõ ràng). Ngôn ngữ dĩ nhiên có thể được sử dụng để giao tiếp, như bất kì việc gì khác mà con người có thể thực hiện, tuy nhiên, thay đổi quan niệm truyền thống cho rằng chức năng ngôn ngữ chủ yếu là công cụ để thể hiện tư duy là không hợp lí. Vì rằng, nói theo quan điểm thống kê, rõ ràng người ta vẫn sử dụng ngôn ngữ để nghĩ nhiều hơn để nói. Bạn có thể tự mình dễ dàng kiểm nghiệm điều đó.

Theo quan điểm nội tại, việc nghiên cứu ngôn ngữ là một phần của sinh học (biology), bên cạnh việc nghiên cứu các hệ thống sinh học khác như hệ thống thị giác (của sinh vật), “cơ quan nhảy múa” và xác định phương hướng của ong, hệ thống tuần hoàn và tiêu hóa .v.v. của các tổ chức sinh học (organisms). Các hệ thống này có thể được nghiên cứu trên những cấp độ khác nhau. Riêng đối với các hệ thống tri nhận,  các cấp độ này thường được gọi một cách không chính thức là “cấp độ tâm lý” (“psychological level”) và “cấp độ sinh lý” (“physiological level”). Một nhà nghiên cứu về ong có thể nỗ lực để xác định và mô tả đặc điểm quá trình tính toán được thực hiện bởi hệ thống thần kinh của ong khi nó phát và nhận thông tin về một nguồn mật ở xa, hoặc khi nó đang tìm cách quay về tổ: đây chính là cấp độ phân tích “tâm lý”. Hoặc giả anh ta cũng có thể cố gắng để tìm hiểu cơ sở thần kinh nào cho phép những khả năng tính toán này của ong, một chủ đề mà chúng ta còn hiểu biết rất ít ngay với những tổ chức sinh học đơn giản nhất: đây chính là cấp độ phân tích “sinh lý”. Hẳn nhiên đây là hai công việc này liên quan tới nhau và hỗ trợ nhau. Những kết quả có được từ “cấp độ sinh học” thường dẫn dắt các nhà khoa học tới các nghiên cứu về cơ chế thần kinh và ngược lại, những phát kiến trong lĩnh vực cơ chế thần kinh có thể giúp các nghiên cứu về tâm lý hé lộ những đặc tính về tổ chức trên nhiều khía cạnh khác nhau.

7f05ba276384097a4676d5c5c2ccaa4b.1500

Theo một cách thức tương tự, việc nghiên cứu các phản ứng hóa học, đặc tính hóa học và những thực thể có cấu trúc liên quan cũng hỗ trợ rất nhiều cho vật lý cơ bản (fundamental physics), chúng đã thúc đẩy sự hợp nhất cuối cùng của hai ngành này. 75 năm trước, Bertrand Russell, một người rất am tường khoa học, từng phát biểu: “cho đến nay, quy luật hóa học không thể giản lược thành quy luật vật lý được”. Ý kiến đó đúng, nhưng đã lỗi thời. Đúng là trên nguyên tắc, những quy luật hóa học không thể được giản lược thành quy luật vật lý, theo đúng cách hiểu của vật lý thời bấy giờ. Tuy nhiên, sự hợp nhất hóa học với vật lý đã đến sau đó chừng vài năm sau khi cuộc cách mạng  về lý thuyết lượng tử (quantum) bắt đầu. Đó chẳng phải là một chương đặc biệt trong lịch sử khoa học hay sao? Vì vậy, chúng ta cũng hoàn toàn không thể đoán định trước được thành quả tương lai của những nỗ lực hiện tại nhằm hợp nhất hai cấp độ “tâm lý” và “sinh lý” trong việc nghiên cứu các khả năng tri nhận của các tổ chức sinh học, trong đó có ngôn ngữ.

Việc hợp nhất vật lý và hóa học để lại cho chúng ta nhiều bài học quan trọng. Hãy nhớ rằng hai ngành khoa học mũi nhọn này quan tâm đến những cấu trúc đơn giản và sơ cấp nhất của thế giới. Chúng không nghiên cứu những thực thể có cấu trúc đặc biệt phức tạp. Trước khi hợp nhất, việc một nhà khoa học hàng đầu cho rằng các nguyên lý và thực thể hóa học giả định (postulated entities) nào đó chỉ là những công cụ tính toán, chúng có ích cho việc tiên đoán các hiện tượng nhưng lại thiếu một đặc tính bí ẩn đó là “hiện thực vật lý” (“physical reality”). 100 năm trước, các nhà khoa học hàng đầu đều coi nguyên tử và phân tử theo những cách giống nhau. Người ta tin vào lý thuyết phân tử gas chỉ vì họ quen với trò bi-da, Poincarre đã từng mỉa mai như vậy. Nhà vật lý Ludwig Boltzmann chết trong nỗi tuyệt vọng một thế kỉ trước vì ông cảm thấy bất lực trong việc thuyết phục các đồng nghiệp của mình về hiện thực vật lý của học thuyết nguyên tử mà ông là một trong số những người sáng lập. Ngày nay, ai cũng hiểu đó đều là hiểu lầm chung của thời đại. “Nguyên tử” của Boltzmann hay “phân tử” của Kekule hay cho dù là những thực thể giả định nào khác cũng đều là thực (real) theo đúng một nghĩa duy nhất mà chúng ta biết: chúng có vị trí quyết định để giải thích tốt nhất một hiện tượng nào đó trong khả năng mà bộ não chúng ta cho phép.

Những bài học trên cũng áp dụng cho cả việc nghiên cứu các cấu trúc và khả năng tri nhận, bao gồm: các lý thuyết về tìm phương hướng ở các loài côn trùng,  sự tri giác những vật thể cứng trong chuyển động, hoặc I-language .v.v. Các nhà nghiên cứu sẽ đi tìm kiếm những kiến giải tốt nhất, hướng tới việc hợp nhất các cấp độ phân tích theo những hướng và thuật ngữ khác nhau mà không cần phải hình dung trước sự hợp nhất đó sẽ như thế nào, hoặc thậm chí đặt câu hỏi về tính khả thi của nó, vì xét cho cùng, trí tuệ con người cũng chỉ là một hệ thống sinh học chứ không phải là một công cụ toàn năng.

Như vậy, với cách tiếp cận “sinh-ngôn ngữ học” (“biolinguistic”), vấn đề cốt lõi của ngôn ngữ học bây giờ là việc nghiên cứu từng I-languages cụ thể, bao gồm trạng thái ban đầu cho đến những trạng thái phái sinh tiếp theo. Một luận đề có thể gây tranh cãi đó là việc nghiên cứu này cần phải được ưu tiên theo nghĩa nó cần phải được tiền giả định, cho dù có thể không hiển ngôn, trong tất cả các cách tiếp cận ngôn ngữ khác như: ngôn ngữ học xã hội, ngôn ngữ học so sánh – đối chiếu, phong cách học .v.v. Điều này là có lý, và trên thực tế là không thể chối cãi nếu như ta phân tích kĩ một nghiên cứu cụ thể nào đó. Tôi nghĩ rằng luận đề này luôn đúng bất kể thế nào đi nữa. Hoặc giả, không ai có thể phủ nhận được một luận đề nhẹ nhàng hơn nó, đó là: việc nghiên cứu khả năng ngôn ngữ của từng người nên có một vị trí cơ bản trong bất kì một nghiên cứu nghiêm túc nào về các mặt của ngôn ngữ, về việc sử dụng hay chức năng của nó. Cũng giống như việc ngành sinh học loài người (human biology) là thành tố cốt lõi trong các nghiên cứu nhân học, lịch sử, nghệ thuật hay bất cứ khía cạnh nào khác của đời sống con người. Và cũng giống như ngành sinh học loài người, cách tiếp cận “sinh-ngôn ngữ học” là một đường hướng thuộc về khoa học xã hội và nhân văn.

(hết phần hai)

Lời người dịch:

Tổng thống Obama từng nói đại ý: con người ta hành động vì nhiều mục đích khác nhau; có người vì tiền, người vì quyền lực, người vì những khích lệ cụ thể nhưng cũng có người được truyền cảm hứng từ những câu chuyện […]. Những câu chuyện đứng đằng sau sự thành công của nước Mĩ, theo Obama, là những câu chuyện tuyệt vời, chẳng hạn như câu chuyện về độc lập, câu chuyện “tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng[1].

Tôi hoàn toàn tán đồng quan điểm của Tổng thống Obama, tuy muốn nói thêm rằng: nếu như có thể phân chia loài người ra thành bốn nhóm theo bốn động cơ hành động trên, tôi tin rằng đa số các nhà khoa học sẽ thuộc vào nhóm cuối cùng – những người sống vì những câu chuyện. Câu chuyện mà tôi muốn chia sẻ với các bạn sau đây là một (trong nhiều) câu chuyện của ngôn ngữ học, một ngành khoa học xã hội và nhân văn vẫn còn rất non trẻ nếu so sánh với các ngành khoa học gạo cội khác như: toán học, vật lí học, sinh học hay sử học, triết học, kinh tế học .v.v. Tuy nhiên, chính nhờ vào câu chuyện này, câu chuyện được kể bởi một người kể chuyện vĩ đại giữa thời đại chúng ta đang sống (ông cũng là một người Mĩ) mà trong gần 60 năm lại đây, ngôn ngữ học đã có những thành tựu to lớn đóng góp chung cho tri thức nhân loại hơn bất kể một giai đoạn nào khác trong lịch sử hơn 2500 năm của mình (tính từ khi các triết gia Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại bàn về ngôn ngữ). Người kể chuyện vĩ đại tôi muốn nhắc đến ở đây, không ai khác, chính là Noam Chomsky, giáo sư ngôn ngữ học thuộc Học viện Công nghệ Massachusetts (Mĩ), một trong mười học giả ngành nhân văn, người duy nhất còn sống, được trích dẫn nhiều nhất (đứng trên Hegel và Cicero và chỉ đứng sau Marx, Lenin, Shakespeare, Kinh Thánh, Aristotle, Plato và Freud)[2]. Ông là người đã khai sinh ra lý thuyết ngữ pháp tạo sinh (Generative Grammar), học thuyết mô tả và giải thích kiến thức ngôn ngữ (knowledge of language), loại kiến thức mà không một loài sinh vật nào khác trên trái đất sở hữu, ngoại trừ loài người.

Câu chuyện về ngữ pháp tạo sinh được Noam Chomsky bắt đầu vào năm 1957 với công trình “Các cấu trúc cú pháp”. Cho đến nay, nó đã được phát triển, điều chỉnh và bổ sung rất nhiều nhờ công sức của chính Chomsky và các môn đệ. Nhờ đó, bức tranh về bản chất cũng như cấu trúc ngôn ngữ đã ngày một trở nên sáng rõ hơn bao giờ hết. Bài viết mà tôi xin giới thiệu sau đây được chính Chomsky chấp bút như là một đúc kết cho một chặng đường gần 50 năm (tính tới thời điểm bài viết ra đời) mà giới Tạo sinh luận đã đi qua. Không ít những giả thuyết được đặt ra từ ban đầu đã bị loại bỏ, nhưng những ý tưởng quan trọng nhất của Chomsky ngay từ “Các cấu trúc cú pháp” thì vẫn được bảo lưu và liên tục được bổ sung và phát triển trên cả chiều rộng lẫn chiều sâu, lý thuyết lẫn cứ liệu ngôn ngữ.

Một chân trời mới trong ngôn ngữ học thực sự đã mở ra phía trước và đang đón chờ những kẻ đam mê nó viết tiếp câu chuyện mà Chomsky đã bắt đầu…

Ngôn Thành, 4/6/2016

Chú thích:

[1] Xem cuộc đối thoại giữa Tổng thống Obama với 1000 bạn trẻ ở TP.Hồ Chí Minh, Việt Nam tại đường link sau (câu hỏi/câu trả lời số 8).

[2] Xem số liệu cụ thể tại đây: http://news.mit.edu/1992/citation-0415


Phần I: bước chuyển của ngôn ngữ học thế kỉ XX và bản chất của ngôn ngữ[1]

Đã một nửa thế kỉ trôi qua kể từ khi việc nghiên cứu ngôn ngữ được thực hiện theo một đường hướng mới song song với việc khơi lại những mối quan tâm cũ tưởng như đã bị lãng quên từ lâu. Tâm điểm của nó là việc chuyển trọng tâm nghiên cứu từ hành vi ngôn ngữ và các sản phẩm hành vi ngôn ngữ (như văn bản, khối liệu .v.v.) sang các cơ chế nội tại (internal mechanisms) tham gia vào các hành vi ngôn ngữ. Sự chuyển biến trong ngôn ngữ học này là một phần của cuộc cải cách từ tâm lý học hành vi sang cái gọi là “khoa học tri nhận” (“cognitive science”) và trên thực tế, nó đã đóng một vai trò hết sức quan trọng trong tiến trình phát triển chung của “khoa học tri nhận”.

chomsky1

Với việc lựa chọn cách tiếp cận khác với cách tiếp cận của chủ nghĩa cấu trúc và hành vi luận vốn khi đó đang rất thịnh hành, đối tượng nghiên cứu của nó giờ đây là một thứ tài sản cá nhân, tài sản của một con người cụ thể ví dụ như cháu gái của tôi chẳng hạn. Câu hỏi đặt ra là, cái tài sản đặc biệt mà mỗi con người đều sở hữu cho phép khả năng kỳ diệu nhưng có thực một cách hiển nhiên đó của con người là gì? Trong thế giới âm thanh, một thế giới “rì rầm rầm rì hỗn loạn” (“buzzing, booming confusion” – chữ của William James), một người có thể ngay lập tức nhận diện ra đâu là âm thanh của ngôn ngữ trong thế giới đó, hơn thế, họ còn có thể thực hiện những thao tác phân tích, một cách vô thức, để cho phép kết luận một hệ thống ngôn ngữ cụ thể nào đó, khi thì là một biến thể của cái bình thường ta vẫn gọi là “tiếng Anh”, khi thì là một biến thể của “tiếng Tây Ban Nha”. Nó hoàn toàn có thể chỉ là một ngôn ngữ của người Trung Quốc, hay một phương ngôn của Australia, hay bất kì một ngôn ngữ tự nhiên nào khác. Và tại sao trong cùng một môi trường như vậy, những con mèo của chúng ta (hay con hắc tinh tinh (chimpanzee) .v.v.) lại không thể thực hiện được ngay từ bước nhận diện âm thanh ngôn ngữ đầu tiên, cũng giống như việc chúng ta không thể nhận diện âm thanh mà một con ong tiếp nhận trong điệu múa vo ve của nó thông tin về khoảng cách cũng như phương hướng của một nguồn mật ong.

Tất cả các tổ chức sinh học (organisms) đều có những tiểu hệ thống (subsystems) làm nhiệm vụ dẫn dắt chúng tương tác với môi trường theo những cách thức riêng. Một số tiểu hệ thống như vậy thường được gọi là cơ quan “tinh thần” (“mental”) hay “tri nhận” (“cognitive”) mà ranh giới của chúng không nhất thiết phải được vạch ra một cách chính xác, giống như việc ta không cần xác định chính xác ranh giới giữa hóa học với sinh học. Sự phát triển của các hệ thống tri nhận, giống như các hệ thống sinh học khác, bị ảnh hưởng bởi môi trường, nhưng nhìn chung nó chủ yếu vẫn được quy định bởi gen. Chẳng hạn, những thay đổi về dinh dưỡng có thể có tác động sâu sắc tới sự phát triển của chúng nhưng chắc chắn sẽ không thể biến một phôi thai người thành một con ong hay một con chuột, điều này cũng đúng với quá trình phát triển tri nhận. Người ta đã chứng minh thuyết phục rằng trong các hệ thống tri nhận của người, có một hệ thống gọi là “cơ quan ngôn ngữ” (“faculty of language” – FL), một tiểu hệ thống (chủ yếu) nằm trong não bộ. Cũng có những bằng chứng thuyết phục khác từ các nhà bệnh lý học cho thấy, FL gần như là đồng bộ cho tất cả mọi người và là một tài sản duy nhất loài người sở hữu. “Trạng thái ban đầu” (“initial states”) của FL được quy định từ nguồn gen chung của loài người. Dần dần nhờ tiếp xúc với môi trường bên ngoài, FL trải qua các trạng thái tiếp theo và thường đạt tới sự ổn định tương đối vào tuổi dậy thì, sau thời điểm này những sự thay đổi (nếu có) đều thuộc về ngoại biên, tức chủ yếu là sự gia tăng về mặt từ vựng.

chomsky2

Với những gì chúng ta biết được cho tới nay, mỗi khía cạnh của ngôn ngữ – âm thanh, cấu trúc, ý nghĩa các từ và các biểu thức phức tạp hơn từ – đều bị giới hạn ngặt nghèo bởi các đặc tính của trạng thái ban đầu trên. Những giới hạn đó làm nền tảng và lý giải cho sự phong phú và biến hóa phi thường của các hệ thống ngôn ngữ phái sinh. Sự thực hiển nhiên là quy mô và giới hạn chắc chắn có liên hệ mật thiết với nhau. Nguồn gen sinh học cho phép một bào thai trở thành chuột, cho dù có ít “thông tin” về môi trường bên ngoài nhất, sẽ ngăn chặn bào thai đó trở thành một con ruồi hay một con khỉ. Điều này cũng phải đúng đối với các cơ quan tinh thần cao cấp hơn của loài người, với giả thiết con người là một giống loài sinh học chứ không phải là thần tiên trên trời.

Với những trạng thái kế tiếp của FL, bao gồm “trạng thái ổn định” (“stable states”), chúng ta có thể coi chúng là “những ngôn ngữ”: hoặc nói theo thuật ngữ kĩ thuật hơn là “những ngôn ngữ nội hóa” (“internalized languages” – I-languages). Sở hữu một I-language tức là được trang bị một công cụ để thực hiện cái gọi là “sử dụng sáng tạo ngôn ngữ” (“creative use of language”), khía cạnh từng được Descartes và các môn đệ coi như là chỉ báo chính cho việc sở hữu tâm trí. Một người nào đó có thể sản sinh ra những biểu thức ngôn ngữ hoàn toàn mới mà không giới hạn về số từ, thích hợp với một tình huống hoặc hoàn cảnh bất kì mà không phải là chủ đích của anh ta, và kích hoạt sự suy nghĩ của người khác, những người cũng có khả năng tương tự như anh ta. Bản chất của những khả năng này vẫn còn là một dấu hỏi lớn buộc chúng ta phải suy ngẫm giống như những học giả đi theo Descartes. Tuy nhiên, nhờ sự chuyển hướng sang “ngôn ngữ học nội tại” (“internal linguistics”) mà rất nhiều tri kiến mới mẻ về các cấu trúc cũng như hoạt động tri nhận tham gia vào những khả năng đặc biệt trên đã được hé lộ cho chúng ta.

          (hết phần một)

Chú thích:

[1] Nguyên bản bài viết của Chomsky không chia phần. Việc chia phần và đặt tên cho từng phần là kiến giải của người dịch nhằm giúp các độc giả tiếp cận có hệ thống hơn bài viết cũng như tư tưởng của Chomsky.

1. Đặt vấn đề

Sự lưỡng phân “ngữ năng” (competence) và “ngữ hành” (performance) của N.Chomsky có liên hệ từ sự lưỡng phân “ngữ ngôn” (langue) và “lời nói” (parole) của F.de Saussure. Điều đáng nói là không ít sinh viên vẫn thường chưa hiểu rõ sự liên hệ giữa hai cặp khái niệm này, dẫn đến nhiều khi đánh đồng chúng với nhau. Lí do của hiện trạng này là vì trong các tài liệu ngôn ngữ học hiện nay, nhiều tác giả do không minh định rõ sự khác biệt giữa chúng mà chỉ trình bày một cách sơ lược nên vô tình đã khiến nhiều độc giả cảm thấy bối rối, mập mờ (cf. Lyons 1996:93; Vũ Thị Thanh Hương et al. 2006:7). Vậy cụ thể “ngữ năng – ngữ hành” giống và khác gì với “ngữ ngôn – lời nói”? Đâu là sự cách tân của Ngữ pháp tạo sinh từ Cấu trúc luận của F.de Saussure? Cơ sở cũng như hệ quả phương pháp luận của chúng là gì? Bài viết này sẽ cố gắng làm sáng tỏ những khía cạnh trên.

2. Ngữ ngôn – lời nói và ngữ năng – ngữ hành

2.1. Bức tranh không rõ ràng về hai cặp phạm trù này có thể tìm thấy rất nhiều trong các tài liệu ngôn ngữ học. Ví dụ, trong Lyons (1996: 93) viết: “[…] Chomsky mới đây đã phỏng theo sự phân biệt đó mà đưa ra những từ ngữ “năng lực” (competence) và “sự thực hiện” (performance) ngôn ngữ”. Hay trong Vũ Thị Thanh Hương et al. (2006:7), trong lời giới thiệu cuốn sách, Lương Văn Hy viết: “Một tác động lớn của cấu trúc luận là sự phân định ngôn ngữ (langue) và lời nói (parole), xem ngôn ngữ là một sự kiện xã hội với những quy luật thuần nhất cho mỗi ngôn ngữ […] (Hơn nửa thế kỉ sau, nhà ngôn ngữ học nổi tiếng Noam Chomsky cũng có hai khái niệm cơ bản tương đồng, năng ngôn [linguistic competence] và ngôn hành [linguistic performance] với khác biệt chính là năng ngôn được xem là có nguồn gốc ở yếu tố di truyền, có tính phổ quát cho con người nói chung, thay vì là một sự kiện xã hội)[1].  Ý kiến của Lương Văn Hy tuy có nói lên một khía cạnh khác biệt giữa ngữ năng (competence) và ngữ ngôn (langue) là nguồn gốc, song giống với ý kiến của John Lyons, chúng đều rất sơ lược và không nói lên được điểm khác biệt cốt lõi của hai khái niệm này, đó là khía cạnh về bản thể luận. Đây cũng chính là tiêu điểm mà chúng ta sẽ tập trung thảo luận trong những phần tiếp theo.

2.2. Một trong những công lao của Saussure với ngôn ngữ học đại cương đó là việc bóc tách bản thể ngôn ngữ, vốn trước đó vẫn chỉ được coi là một khối “ngôn ngữ” (langage) chung chung, ra thành hai bộ phận cụ thể là “ngữ ngôn” (langue) và “lời nói” (parole). Trong Giáo trình ngôn ngữ học đại cương (viết tắt: Giáo trình), Saussure lần lượt phân biệt ngôn ngữ (langage) với ngữ ngôn (langue), ngữ ngôn (langue) với lời nói (parole).

Nhưng ngôn ngữ (langue) là gì? Đối với chúng tôi, nó không đồng nhất với hoạt động ngôn ngữ (langage)[2]. Nó chỉ là một bộ phận nhất định của hoạt động ngôn ngữ tuy là bộ phận cốt yếu […] Nhìn chung toàn bộ, hoạt động ngôn ngữ vốn đa dạng và kỳ lạ; nó đã cưỡi lên nhiều lĩnh vực, vừa vật lý, vừa sinh lý, vừa tâm lý, lại còn liên quan đến lĩnh vực cá nhân, lĩnh vực xã hội nữa; không thể đem xếp nó vào một phạm trù nào của các sự kiện nhân loại, vì người ta không biết làm thế nào để xác định tính thống nhất của nó.

Ngược lại, ngôn ngữ tự nó là một thể hoàn chỉnh và một nguyên lý phân loại […]”(cf. Saussure 2005: 43-44).

Tách ngôn ngữ ra khỏi lời nói, người ta đồng thời cũng tách luôn: 1. Cái gì có tính chất xã hội với cái gì có tính chất cá nhân; 2. Cái gì có tính chất cốt yếu với cái gì có tính chất thứ yếu và ít nhiều ngẫu nhiên […]” (cf. Saussure 2005: 50)

Sự phân biệt giữa ngữ ngôn – lời nói đã đánh dấu một bước phát triển mới trong tiến trình nhận thức của con người về hiện tượng ngôn ngữ nói chung và phương pháp luận nghiên cứu ngôn ngữ nói riêng. Theo đó, việc nghiên cứu ngôn ngữ gồm hai bộ phận: một bộ phận chủ yếu nghiên cứu về ngữ ngôn, và một bộ phận thứ yếu nghiên cứu về lời nói. Với Saussure, ngôn ngữ học chỉ có thể là ngôn ngữ học của ngữ ngôn mà thôi (cf. Saussure 2005: 60). Đây chính là xuất phát điểm của ngôn ngữ học trường phái Geneva. Nó đã tác động không nhỏ lên phương pháp luận của một loạt các trường phái ngôn ngữ học hậu Saussure trong đó có Tạo sinh luận của N.Chomsky.

2.3. Trong Lý thuyết chuẩn (Standard Theory) được trình bày trong Các bình diện của lý thuyết cú pháp (1965) của mình, Chomsky đề ra sự phân biệt giữa ngữ năng (competence) – ngữ hành (performance) như là khởi điểm của việc nghiên cứu ngôn ngữ. Ngữ năng là kiến thức ngôn ngữ (knowledge of language) của những người nghe – người nói lý tưởng trong khi đó ngữ hành chính là việc sử dụng ngôn ngữ trên thực tế, trong những tình huống cụ thể. Kiến thức ngôn ngữ được hiểu ở đây không mang tính có ý thức (như kiến thức nấu ăn, đi xe đạp .v.v.) mà là những tri thức mang tính vô thức (như “kiến thức” đi đứng, nhìn, ngửi .v.v.). Một người Việt không cần biết quy tắc tạo câu hỏi vẫn có thể sử dụng câu hỏi một cách bình thường.

9780262530071

Các bình diện của lý thuyết cú pháp (1965)

Đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học là ngữ năng, tức tập hợp những tri thức ngôn ngữ mang tính vô thức (subconscious) (cf. Radford 2004:7). Việc quan sát ngữ hành có thể đóng vai trò nào đó trong việc cung cấp bằng chứng cho lý thuyết ngôn ngữ – một thực thể tâm lý (mental reality) nhưng không thể là đối tượng nghiên cứu đích thực của ngôn ngữ học. Ở đây, Chomsky không giấu giếm sự kế thừa của mình từ Saussure cặp khái niệm “langue – parole” (cf. Chomsky 1965:4). Lời nói cũng giống như ngữ hành không phải là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học vì nó mang tính chủ quan. Ngữ liệu có được từ lời nóingữ hành bị chi phối bởi quá nhiều yếu tố ngoài ngôn ngữ (extra-linguistic) mà nhà nghiên cứu khó có thể kiểm soát được (trí nhớ người nói, thời tiết, thói quen .v.v.). Nên cho dù mối quan hệ giữa lời nói – ngữ ngôn có như “hai mặt của một tờ giấy”; còn ngữ hành, nói theo Chomsky, là hình ảnh phản chiếu ngữ năng (nhưng là một “hình ảnh không hoàn hảo”) thì đối tượng nghiên cứu đích thực của ngôn ngữ học vẫn phải là ngữ ngôn và ngữ năng.  Qua đây có thể thấy rằng, nội hàm lời nói của Saussure gần như trùng khít với nội hàm ngữ hành của Chomsky.

2.4. Tuy nhiên, lí do Chomsky phản đối hệ thuật ngữ của Saussure là vì nội hàm ngữ ngônngữ năng khác nhau. Trong Giáo trình, Saussure định nghĩa ngữ ngôn như là một hệ thống, hay một tập hợp có cấu trúc các dấu hiệu (signs) mang tính tâm lý gồm hai mặt sở biểunăng biểu. Ông nhắc đi nhắc lại luận điểm này rất nhiều lần (cf. Saussure 2005: 52, 53, 222, 231 .v.v.). Từ việc coi bản chất của ngữ ngôn là một kho dấu hiệu, nói cách khác, một “kho từ” mang tính thiết chế xã hội, Saussure dường như đã coi việc tạo câu (sentence formation) là hiện tượng thuộc về địa hạt lời nói, tức một hiện tượng cá nhân (hoặc nói như Chomsky là lằn ranh giữa ngữ ngôn và lời nói) và hệ quả là ngôn ngữ học cấu trúc luận (structural linguisitcs) chỉ tập trung miêu tả hệ thống từ ngữ mà xem nhẹ việc miêu tả những quy tắc tạo câu ẩn sau bức màn của từ ngữ.  Chomsky đã phê phán cách tiếp cận thiên lệch này của Saussure. Ông viết:

Nói chung, các nhà miêu tả luận hiện đại ít để ý đến khía cạnh “sáng tạo” của ngôn ngữ; họ tránh các vấn đề liên quan tới miêu tả hệ thống các quy tắc tạo sinh nối kết các mô tả cấu trúc với các phát ngôn tùy ý; những quy tắc biểu hiện cho kiến thức ngôn ngữ cũng như ngữ năng trong đó của người nói”. (cf. Chomsky 1964: 23).

Nói cách khác, trong khi Ngôn ngữ học Cấu trúc luận của F.de Saussure chỉ quan tâm chủ yếu đến câu hỏi cấu trúc của một hệ thống ngôn ngữ như thế nào, thì Tạo sinh luận chủ yếu tập trung trả lời cho câu hỏi: con người có thể nói được những gì vì sao con người có được khả năng đó. Giả thiết của Tạo sinh luận là con người có khả năng tạo ra vô hạn các câu đúng ngữ pháp (tức một cộng đồng ngôn ngữ nào đó hoàn toàn chấp nhận). Tuy nhiên, khả năng hữu hạn của trí óc con người rõ ràng không cho phép chúng ta ghi nhớ một bộ “từ điển” vô hạn các câu như thế. Vì vậy, chắc chắn phải tồn tại một bộ quy tắc hữu hạn (finite) giúp con người có được khả năng “sáng tạo” ngôn ngữ đó.  Chomsky gọi bộ quy tắc đó là ngữ năng, tức tập hợp các quy tắc mang tính tâm lý giúp con người có thể tạo sinh ra vô hạn các câu đúng ngữ pháp (grammatical).

Như vậy, mặc dù có cùng bản chất tâm lý như nhau song nếu như hình dung việc sử dụng ngôn ngữ là việc kết hợp các đơn vị (từ, ngữ) với nhau để tạo ra các biểu thức ngôn ngữ (câu/phát ngôn) thì đối tượng nghiên cứu của Cấu trúc luận chính là bản thân các đơn vị đó và giá trị (value) của chúng trong hai mối quan hệ hệ hình (paradigmatic)cú đoạn (syntagmatic); còn đối tượng Tạo sinh luận lại là các quy tắc giúp ta có thể cấu tạo (form) và giải nghĩa (interprete) các biểu thức ngôn ngữ. Điều cần tránh hiểu nhầm ở đây đó là tập hợp các quy tắc giúp tạo sinh câu không đơn thuần chỉ là những quy tắc cú pháp. “Ngữ pháp” theo truyền thống chỉ bao hàm “từ pháp” và “cú pháp”. Tuy nhiên, khái niệm “ngữ pháp” theo cách dùng của Chomsky thì rộng hơn, bao hàm ba bộ phận gồm: ngữ âm – cú pháp – ngữ nghĩa; trong đó, cú pháp đóng vai trò cầu nối giữa hai bộ phận còn lại. Tập hợp các quy tắc bao gồm các quy tắc của cả ba bộ phận trên. Nói cách khác, ngữ năng bao hàm kiến thức ngôn ngữ của người nói-người nghe lý tưởng trên cả ba bình diện ngữ âm – cú pháp – ngữ nghĩa. Từ điểm xuất phát này, trong những phiên bản tiếp theo của ngữ pháp Tạo sinh mà gần đây nhất là Chương trình Tối giản luận (Minimalist Program) (cf. Chomsky 1993,  1995), Chomsky đã làm rõ hơn khái niệm về ngữ năng (ông dùng thuật ngữ mới là “I-language”) như là một tập hợp các quy tắc bên cạnh một bộ phận khác gọi là Danh sách (Lexicon). Danh sách được hiểu như là một tập hợp các từ/đơn vị từ vựng trong một ngôn ngữ cùng những tính chất ngôn ngữ học (ngữ nghĩa, cú pháp, ngữ âm) của chúng (cf. Radford 2004: 9). Danh sách và các quy tắc (rules) chính là hai thành tố đóng vai trò “đầu vào” (input) của bộ phận cú pháp (syntactic component). Sự tương đồng rõ rệt giữa nội hàm danh sách (lexicon) của Chomsky và ngữ ngôn (langue) của Saussure như là một hệ thống tín hiệu hai mặt thực sự cho phép chúng ta nghĩ rằng, ngữ ngôn chính là danh sách theo cách hiểu của Tạo sinh luận. Theo đó, có thể khẳng định rằng, ngữ năng (tức quy tắc) là sự bổ sung của Chomsky vào học thuyết ngữ ngôn của Saussure. Nói cách khác, toàn bộ lý thuyết của Chomsky chính là sự kế thừa ngữ ngôn (tức danh sách) và mở rộng học thuyết về ngữ ngôn của Saussure bằng việc thêm cho nó một đối tượng nghiên cứu mới: các quy tắc thuộc về ngữ năng.

2.5. Tư tưởng cách tân của Chomsky được khơi nguồn từ W.von Humboldt, người cho rằng nhiệm vụ cao cả của ngôn ngữ học là phải trả lời được câu hỏi như thế nào và vì sao con người có thể tạo ra “vô hạn cách dùng từ những phương tiện hữu hạn” (“make infinite uses of finite means”). Tại sao con người có thể nói hoặc hiểu những câu mà chính họ thậm chí chưa từng bao giờ nghe hoặc nói ra? Hạn chế của Cấu trúc luận Saussure theo Tạo sinh luận là không nhìn thấy sự phong phú đáng ngạc nhiên của việc tạo sinh câu. Nói cách khác, Saussure và môn đệ của mình đã không quan tâm đến khía cạnh “sáng tạo” của ngôn ngữ. Sự khác biệt trong cách hiểu bản thể ngôn ngữ của Humboldt và Saussure, theo nhà triết học ngôn ngữ Voloshinov, cũng chính là sự đối lập giữa hai xu hướng triết học ngôn ngữ chủ đạo, chủ nghĩa chủ quan cá nhân (Humboldt) và chủ nghĩa khách quan trừu tượng (Saussure). Theo đó, trong khi chủ nghĩa chủ quan cá nhân coi ngôn ngữ là hoạt động sáng tạo mang tính cá nhân thì chủ nghĩa khách quan trừu tượng lại xem ngôn ngữ như là một hệ thống dấu hiệu tĩnh tại của một cộng đồng ngôn ngữ (cf. Voloshinov 2015[3]).

2.6. Cũng xuất phát từ sự khác biệt trong cách hiểu ngữ năng ngữ ngôn, Tạo sinh luận và Cấu trúc luận có cách lý giải khác nhau cho rất nhiều vấn đề quan yếu khác (ngoài đối tượng nghiên cứu) trong đó nổi bật là vấn đề thụ đắc ngôn ngữ (language acquisition) ở trẻ em. Theo Cấu trúc luận, việc thụ đắc ngôn ngữ chỉ là một cơ chế mang tính kinh nghiệm. Ngữ ngôn là một kho từ và trẻ em dần dần ghi nhớ kho từ này trong đầu, sau đó là sử dụng chúng. Whitney (1872), người có ảnh hưởng rất lớn đến Saussure, từng phát biểu:

Ngôn ngữ trong nghĩa cụ thể …[là]…tập hợp các từ ngữ mà nhờ nó con người có thể diễn đạt ý nghĩ của mình. [….] Việc thụ đắc ngôn ngữ ở trẻ em không có gì là bí ẩn cả. […] Một đứa trẻ, sau khi nghe một từ nào đó nhiều lần, sẽ dần học được ý nghĩa của từ đó và sau đó là cách phát âm lẫn cách dùng nó.”(cf. Chomsky 1964:22)

Trong khi đó, Tạo sinh luận lại thấy rằng việc trẻ em có thể thụ đắc được bất kì ngôn ngữ tự nhiên nào trên thế giới (tiếng Anh, tiếng Việt .v.v.) không đơn giản như thế. Đó thực sự là một điều kỳ diệu. Trẻ em có thể học được ngôn ngữ mặc cho môi trường ngôn ngữ xung quanh nó có nghèo nàn và đầy rẫy những khiếm khuyết đến mức nào. Làm sao chúng có thể biết được tất cả những quy tắc tạo sinh câu đúng từ những ngữ liệu chúng nghe được từ môi trường? Trẻ em không thể nào thu nạp tất cả những quy tắc tạo sinh câu đúng từ môi trường ngôn ngữ xung quanh đầy rẫy những khiếm khuyết[4]. Vậy một phần ngữ năng phải đến từ một nguồn khác. Chomsky gợi ý “nguồn khác” ở đây chính là sinh học và gọi phần ngữ năng được nạp vào trong não của đứa trẻ từ trước khi nó ra đời là Ngữ pháp Phổ quát (Universal Grammar). Ngữ pháp Phổ quát là chung cho tất cả ngôn ngữ loài người. Việc cất giữ Ngữ pháp Phổ quát lẫn thu nạp Ngữ pháp cá biệt (Particular Grammar), tức ngữ pháp của một ngôn ngữ cụ thể nào đó có được nhờ tiếp xúc giữa Ngữ pháp Phổ quát với môi trường ngôn ngữ bên ngoài, đều được thực hiện thông qua một cơ quan sinh học nằm trong não bộ mà Chomsky gọi là Thiết bị Thụ đắc Ngôn ngữ (Language Acquisition Device). Tóm lại, việc thụ đắc ngôn ngữ ở trẻ em theo Tạo sinh luận là một cơ chế mang tính bẩm sinh (innate). Đây cũng chính là một minh họa rõ nét cho sự tương phản giữa hai cách tiếp cận của chủ nghĩa duy lí (Tạo sinh luận) và chủ nghĩa kinh nghiệm (Cấu trúc luận Geneva) trong ngôn ngữ học nói chung.

3. Kết luận

Tóm lại, Tạo sinh luận của Chomsky phản đối cách hiểu đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học như là một tập hợp các thành tố, một kho dấu hiệu, tức ngữ ngôn của Saussure mà thay vào đó là tập hợp các quy tắc tạo sinh và kiến giải câu, tức ngữ năng. Hiểu rõ bản chất của ngữ ngôn – lời nói của Saussure cũng như ngữ năng – ngữ hành của Chomsky là hiểu rõ xuất phát điểm khác nhau của hai trường phái ngôn ngữ học lớn nhất hiện nay là Cấu trúc luận và Tạo sinh luận và một phần nào đó là cả Chức năng luận (trường phái coi đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học phải là lời nói – ngữ hành). Hiểu rõ sự khác biệt này cũng sẽ giúp ta tránh được sự hiểu nhầm không đáng có trong việc nhận diện và đánh giá những gia tài ngôn ngữ học hiện đại đã thừa hưởng từ vị cha đẻ của nó – Ferdinand de Saussure./.

 Chú thích

[1] Ngữ năng có một phần bẩm sinh, tức ngữ pháp phổ quát (Universal Grammar) nhưng cũng có phần xã hội. Phần xã hội của ngữ năng thể hiện ở chỗ nó chỉ được kích hoạt bởi những tiếp xúc từ môi trường ngôn ngữ, tức “kinh nghiệm – xã hội”. Trong những phần sau chúng ta sẽ làm rõ hơn những điểm này.

[2] Trong bài này tôi sử dụng hệ thuật ngữ của Nguyễn Thiện Giáp (2012), theo đó “ngôn ngữ” – “ngữ ngôn” – “lời nói” lần lượt tương ứng với “hoạt động ngôn ngữ” – “ngôn ngữ” – “lời nói” trong bản dịch của Cao Xuân Hạo và tương ứng với “langage” – “langue” – “parole” của F.de Saussure (1916).

[3] Xem thêm V.N. Voloshinov, Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ (Ngô Tự Lập dịch), NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2015.

[4] Lập luận này có tên gọi Sự nghèo nàn của các kích thích (the Poverty of Stimulus). Xem thêm Legate, Julie; Yang, Charles (2002). “Empirical re-assessment of stimulus poverty arguments”The Linguistic Review (19): 151–162

Tài liệu tham khảo

  1. Chomsky, N. (1957). Syntactic structures. Mouton.
  2. Chomsky, N. (1964). Current issues in linguistic theory. Mouton & Company.
  3. Chomsky, N. (1965). Aspects of the theory of syntax. M.I.T. Press.
  4. Chomsky, N. (1995). Minimalist Program. MIT Press.
  5. Lyons, J. (1996). Nhập môn ngôn ngữ học lý thuyết. (Vương Hữu Lễ dịch). NXB Giáo dục.
  6. McGilvray, J. et al. (2005). The Cambridge Companion to Chomsky. Cambridge University Press.
  7. Nguyễn Thiện Giáp. (2012). Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ. NXB Giáo dục Việt Nam.
  8. Radford, A. (2004). Minimalist syntax: Exploring the structure of English. Cambridge University Press.
  9. Saussure, F. de. (2011). Course in General Linguistics: Edited by Perry Meisel and Haun Saussy. (W. Baskin, Trans.). Columbia University Press.
  10. Saussure, F. de. (2005). Giáo trình ngôn ngữ học đại cương (Cao Xuân Hạo dịch). NXB Khoa học xã hội.
  11. Trịnh Hữu Tuệ. (2014). Bài giảng môn Cú pháp học, ĐHKHXH&NV.
  12. N. Voloshinov. (2015). Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ. (Ngô Tự Lập dịch). NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
  13. Vũ Thị Thanh Hương et al. (2006). Ngôn ngữ, văn hoá và xã hội: Một cách tiếp cận liên ngành (sách dịch). NXB Thế giới.