Nguyên tác: The Common Language of Science, bài báo phát thanh trong Hội thảo Khoa học, London, 28 tháng 9 năm 1941.

Dịch theo bản ghi lại trong Albert Einstein, Ideas and Opinions, Three Rivers Press.

Tóm tắt: Nội dung chính của bài báo xoay quanh hai câu hỏi, i.) ngôn ngữ và tư duy liên hệ mật thiết với nhau ra sao? và ii.) ngôn ngữ chung của khoa học (ví dụ: ngôn ngữ hình học Euclid, ngôn ngữ toán đại số,.v.v.)  khác gì với ngôn ngữ thường nhật của chúng ta (ví dụ: tiếng Đức, tiếng Anh, tiếng Việt,v.v.)? Với khả năng lý luận của một nhà vật lý thiên tài, Einstein đã phác thảo một diễn tiến của ngôn ngữ nói chung, từ trình độ sơ khai đến trình độ khoa học, trong đó nhấn mạnh đến sự khác biệt riêng có của ngôn ngữ khoa học, đó là tính chính xác và tính quốc tế. Sức mạnh của ngôn ngữ khoa học chính là sức mạnh của phương pháp khoa học. Tuy nhiên, theo Einstein, sức mạnh đó chỉ có thể giúp thế giới chúng ta tốt đẹp hơn nếu như nó phục vụ những mục đích cao cả và thiêng liêng của loài người, chứ không phải làm công cụ cho những dã tâm chính trị  …


 

Bước đầu tiên tiến tới ngôn ngữ đó là nối kết âm thanh hay những biểu tượng của âm thanh với những biểu đạt nghĩa. Gần như tất cả các loài động vật sống theo bầy đàn, theo một chừng mực, đều đạt tới trình độ giao tiếp sơ khai này. Ở một trình độ cao hơn, sẽ xuất hiện những tín hiệu mới sao cho chúng thiết lập những quan hệ phức tạp hơn giữa các tín hiệu khác nó với những biểu đạt nghĩa. Ở giai đoạn này, chúng đã có thể diễn đạt những thông báo phức tạp và chính ở đây, ta có thể nói ngôn ngữ khởi sinh. Nếu như ngôn ngữ là phương tiện dẫn dắt tất cả chúng ta tới sự hiểu biết, nó buộc phải có những quy tắc liên quan đến quan hệ giữa các tín hiệu và mặt khác,  nó buộc phải có những liên kết vững chãi giữa tín hiệu và nội dung biểu đạt. Vào lúc ấu thơ, mỗi cá nhân nối kết với nhau qua một ngôn ngữ chung nào đó sẽ nắm bắt những quy tắc và liên kết này phần đa nhờ trực giác. Khi trưởng thành hơn, họ bắt đầu có ý thức về những quy tắc liên quan đến các liên kết giữa tín hiệu, chính lúc này, cái gọi là ngữ pháp của ngôn ngữ thành hình.

Vào giai đoạn đầu, các từ có thể trực tiếp tương ứng với những biểu đạt. Tuy nhiên, vào giai đoạn tiếp theo, mối tương liên trực tiếp này mất đi. Theo đó, có những từ chuyển tải những quan hệ tới nhận thức của chúng ta khi và chỉ khi những từ này quan hệ với những từ khác (ví dụ những từ như “là”, “hoặc”, “thứ”). Ở những từ này, thứ can hệ đến nhận thức của chúng ta là một nhóm từ (ND: tức một “ngữ”), chứ không phải một từ đơn lẻ nào đó. Và như vậy, khi ngôn ngữ một phần nào đó trở nên độc lập khỏi những biểu đạt nghĩa làm nền, khi đó một sự thống nhất nội tại lớn hơn sẽ xuất hiện.

Chỉ khi đạt được nấc thang phát triển này, khi cái gọi là những khái niệm trừu tượng xuất hiện và được sử dụng thường xuyên, khi đó ngôn ngữ mới trở thành một công cụ để tư duy, theo ý nghĩa chân chính của từ này. Tuy nhiên, cũng chính bước phát triển này biến ngôn ngữ thành nguồn gốc nguy hiểm của những lừa gạt và sai lầm. Tất cả mọi thứ phụ thuộc vào mức độ mà từ và những kết hợp từ (ND: tức “ngữ”) nối kết với thế giới nghĩa. Điều gì khiến cho ngôn ngữ và tư duy có mối quan hệ khăng khít đến vậy? Liệu có phải ta không thể suy nghĩ mà không cần đến ngôn ngữ? Liệu có tồn tại những khái niệm và những kết hợp khái niệm mà không cần diễn đạt chúng bằng ngôn ngữ trong đầu chúng ta? Chẳng phải tất cả chúng ta đều đang vật lộn với ngôn từ trong khi sự liên kết giữa “các thứ” đều đã rõ ràng sao?

Chúng ta có thể có khuynh hướng cho rằng việc suy nghĩ hoàn toàn độc lập với ngôn ngữ nếu như mỗi cá nhân tạo ra hoặc có khả năng tạo ra những khái niệm của anh ta mà không cần đến những chỉ dẫn ngôn ngữ trong môi trường của mình. Tuy nhiên, khả năng cao là trí tuệ cá nhân hình thành dưới những điều kiện phi ngôn ngữ như thế sẽ rất nghèo nàn. Vì vậy, ta có thể đi đến một kết luận đó là sự phát triển tinh thần của mỗi người và cách tạo nên những khái niệm trong đầu anh ta, phụ thuộc rất lớn vào ngôn ngữ. Kết luận này khiến ta nhận ra sự tương đồng ngôn ngữ đồng nghĩa với sự tương đồng về tư duy ở mức độ nào. Ngôn ngữ và tư duy liên kết với nhau chính ở đây.

143

Câu quote của Einstein mình vẫn thường dùng để nhắc mình, klq đến nội dung bài báo lắm.

Cái gì phân biệt ngôn ngữ của khoa học với ngôn ngữ thường nhật của chúng ta? Làm sao ngôn ngữ khoa học lại có đặc tính quốc tế? Khoa học luôn hướng đến sự rõ ràng và sâu sắc nhất có thể về các khái niệm cũng như những mối quan hệ  tương tác giữa chúng và sự tương ứng của chúng với những dữ kiện cảm quan. Hãy lấy ngôn ngữ của hình học Euclid và số học làm ví dụ minh họa. Chúng vận dụng một số lượng nhỏ các khái niệm độc lập với nhau và những kí hiệu tương ứng với chúng, thí dụ như số nguyên, đường thẳng, điểm và những kí hiệu được thiết kế nhằm mô tả các phép toán cơ bản, tức những quan hệ cơ bản giữa các khái niệm cơ bản. Đây chính là nền tảng để thiết lập những cấu trúc và theo đó là định nghĩa của tất cả những phát biểu và khái niệm khác. Mối quan hệ giữa, một bên là các khái niệm và những phát biểu, và, một bên là những dữ liệu cảm quan, được thiết lập qua những hoạt động đo lường và tính toán mà quá trình tiến hành chúng, nhờ đó, có đủ sự minh xác.

Còn tính siêu quốc gia của những khái niệm khoa học và ngôn ngữ khoa học có được là nhờ một sự thực: chúng đều được những bộ óc ưu việt nhất, thuộc tất cả các quốc gia và thời đại, thiết lập. Cho dù đơn thương độc mã tiến hành hay phối hợp tập thể đi chăng nữa, chính họ đã tạo nên những công cụ tinh thần cho những cuộc cách mạng kỹ thuật giúp thay đổi cuộc sống của loài người chúng ta trong suốt những thế kỉ vừa qua. Những hệ thống khái niệm của họ đã đưa đường chỉ lối cho chúng ta băng qua thế giới hỗn độn của các giác quan, để từ đó, chúng ta có thể nghiên cứu và rút ra được những chân lí tổng quát từ những hiện tượng đặc thù.

Phương pháp của khoa học tạo ra những hy vọng và gây nên những lo ngại gì cho loài người chúng ta? Tôi nghĩ rằng đây không phải là cách đặt câu hỏi đúng. Phương tiện này nằm trong tay chúng ta và nó giúp chúng ta tạo ra cái gì là phụ thuộc hoàn toàn vào bản chất mục đích sống của loài người. Chỉ cần những mục đích này còn tồn tại, phương pháp của khoa học sẽ cung cấp cho chúng ta phương tiện để hiện thực hóa chúng. Tất nhiên, ở đây nó không thể cung cấp phương tiện cho những mục đích như thế[i]. Phương pháp của khoa học bản thân nó sẽ không dẫn chúng ta đi đến đâu hết, thậm chí nó đã không tồn tại nếu như loài người không khát khao tranh đấu vì một mục đích:thấu hiểu thế giới.

Theo quan điểm của tôi, các phương tiện hoàn hảo nhưng đi cùng với những mục đích lầm lỗi là đặc trưng của thời đại chúng ta đang sống. Nếu như chúng ta thực tâm và nhiệt thành mong ước một thế giới an toàn, thịnh vượng, một môi trường tự do để phát triển tài năng của con người thì nhất định chúng ta sẽ không bao giờ sáng tạo nên những phương tiện để phục vụ cho một chính thể như thế (ND: tức như Đức Quốc Xã). Và cho dù chỉ có một thiểu số loài người trên thế giới hướng đến những mục đích trên, thì về mặt dài hạn, nhất định sự cao cả của chúng cũng sẽ được chứng minh.

[i] ND: ám chỉ những mục đích xấu xa của Đức Quốc Xã vào thời điểm Einstein đọc bài báo này (tháng 9 năm 1941).


Trọng đông năm Đinh Dậu, ngày đầu tháng rét mướt…

Dịch hầu các anh em ngôn ngữ học ở Việt Nam,

Ngôn Thành @ Côn Minh, 2017 ./.

Advertisements