Phần cuối: Lý thuyết ngữ pháp tạo sinh

Tái sử dụng những thuật ngữ truyền thống trong một ngữ cảnh mới, lý thuyết mô tả một I-language L đôi lúc được gọi là “ngữ pháp” (grammar)[1] của nó, còn lý thuyết mô tả trạng thái ban đầu S-0 của cơ quan ngôn ngữ FL được gọi là “ngữ pháp phổ quát” (universal grammar – UG). Các nghiên cứu này thường được gọi chung là “ngữ pháp tạo sinh” (generative grammar) vì đó là ngữ pháp quan tâm đến cách làm thế nào một L có thể tạo sinh ra một dãy vô hạn các biểu thức. Nhân tố kinh nghiệm (experience) liên quan đến quá trình chuyển hóa từ S-0 sang L được gọi là “ngữ liệu nguyên cấp” (primary linguistic data – PLD). Một ngữ pháp G của một I-language L được coi là thỏa mãn điều kiện về “thỏa đáng mô tả” (descriptive adequacy) khi và chỉ khi nó là một lý thuyết đúng của L. UG được coi là thỏa mãn điều kiện về “thỏa đáng giải thích” (explanatory adequacy) khi và chỉ khi nó là một lý thuyết đúng của trạng thái ban đầu S-0. Hệ thuật ngữ này được xây dựng nhằm mục đích nói lên một sự thật đó là UG có khả năng giải thích sâu hơn các hiện tượng ngôn ngữ so với G. G cung cấp kiến giải cho các hiện tượng nào đó qua việc miêu tả các thao tác tạo sinh ra chúng; UG thì chỉ ra những thao tác tạo sinh này, cũng như những hiện tượng đi kèm, có thể phái sinh từ PLD bằng cách nào. Ta có thể hình dung S-0 như là một phép ánh xạ (mapping) từ PLD tới L, và UG là lý thuyết mô tả phép ánh xạ trên[2]. Bức tranh lý tưởng này đôi khi được coi là một phần của cái gọi là “vấn đề logic của việc thụ đắc ngôn ngữ” (the logical problem of language acquisition). Còn việc nghiên cứu dụng ngôn (study of language use) sẽ khảo sát cách sử dụng các tài nguyên của I-language để biểu đạt tư duy, mô tả thế giới, trao đổi thông tin, thiết lập các mối quan hệ xã hội .v.v. như thế nào. Về nguyên tắc, loại nghiên cứu này có thể làm sáng tỏ “khía cạnh sáng tạo của việc sử dụng ngôn ngữ”, tuy nhiên, như đã nhấn mạnh ở trên, những chủ đề này dường như vẫn ẩn sau bức màn bí mật giống như đa số bản chất của các hành vi khác.

linguistics11

Bước chuyển sinh-ngôn ngữ học của ngôn ngữ học thập niên 1950 đã làm sống dậy nhiều mối quan tâm truyền thống, tất nhiên với những cách tiếp cận mới và sự trợ giúp của những công cụ học thuật mới, cụ thể như: việc hiểu rõ bản chất các quá trình đệ qui (recursive processes),  các thao tác tạo sinh (generative procedures) tạo ra vô hạn các sự vật (trong trường hợp này là các biểu thức của L) bằng hữu hạn các phương tiện (các cơ chế của L – mechanisms of L). Ngay từ khi chương trình nghiên cứu này mới được khởi động, nó đã khám phá ra rằng, bất kể các bộ ngữ pháp truyền thống hay từ điển có hoàn bị hay tỉ mỉ đến nhường nào đi nữa thì chúng cũng vẫn không đả động tới những câu hỏi hệ trọng nhất về các biểu thức ngôn ngữ. Chúng đơn giản chỉ cung cấp những “chỉ dẫn” để một người nào đó đã được trang bị FL ở một số trạng thái nhất định nào đó sử dụng, mà để ngỏ câu hỏi về bản chất của những hệ thống này. Và rất mau chóng, theo đường hướng mới, một loạt những hiện tượng mới đã được khám phá, song song với những vấn đề mới đang cần được giải thích một cách toàn diện.

Và một vấn đề cũng rất mau chóng được nhận diện đó là căng thẳng rất lớn tồn tại giữa hai mục tiêu tìm kiếm thỏa đáng mô tả và thỏa đáng giải thích. Mục tiêu đầu dường như dẫn đến những hệ thống quy tắc rất rắc rối, thay đổi theo từng ngôn ngữ và từng cấu trúc của mỗi một ngôn ngữ. Tuy nhiên, điều này không thể đúng. Vì rằng, mỗi một ngôn ngữ đều là sản phẩm phái sinh từ một nguồn gốc FL chung tương tác với PLD riêng chứa ít thông tin về các nguyên tắc và các cấu trúc.

Nan đề (dilemma) trên là động lực để các nhà nghiên cứu khám phá ra những đặc tính chung của các hệ thống nguyên tắc được chiết ra từ những ngữ pháp riêng biệt (particular grammars) và đem gán cho UG sao cho phần dư của chúng đủ đơn giản để có thể thụ đắc được trên cơ sở của PLD. Khoảng 25 năm trước, những nỗ lực này cùng tựu về cái gọi là cách tiếp cận “các nguyên lý và tham số” (principles and parameters – P&P). Đây là một bước tiến rất lớn so với cách nhìn nhận truyền thống về ngôn ngữ. Cách tiếp cận P&P không những thoát li khỏi những quy tắc và cấu trúc cấu thành nên khung (framework) ngữ pháp truyền thống mà nó còn quan hệ rất chặt chẽ với ngữ pháp tạo sinh giai đoạn khởi đầu. Theo đó, mệnh đề quan hệ của tiếng Hungary và ngữ động từ của tiếng Nhật có mối tương quan, nói theo cách nào đó, giống như “động vật có vú trên cạn” (terrestrial mammal) với “sinh vật biết bay” (creature that flies). Nguyên tắc để cấu tạo chúng được phân tích (decomposed) thành các nguyên lý của UG áp dụng cho một diện rộng các cấu trúc truyền thống. Một ngôn ngữ riêng biệt L được xác định bằng cách xác lập các giá trị nhất định theo  “các tham số” của S-0: Trung tâm đầu (N-Adj) hay trung tâm cuối (Adj-N)? Phạm trù nào cho phép “trống” – null (ND: hiểu đơn giản là có hình thức cú pháp nhưng không được phát âm)? .v.v. Các tham số nhìn chung đều phải đủ đơn giản để các giá trị có thể được xác lập trên cơ sở các dữ liệu hạn chế và dễ thụ đắc. Thụ đắc ngôn ngữ chính là quá trình xác lập những giá trị tham số này. Các tham số có thể được hiểu như là những “nguyên tử” của ngôn ngữ – nếu dùng ẩn dụ của Mark Baker[3]. Mỗi một ngôn ngữ tự nhiên là một sự sắp đặt những nguyên tử này bằng cách gán giá trị vào các tham số. Các nguyên lý cố định thì luôn có sẵn cho việc cấu tạo các biểu thức dù cho các nguyên tử được sắp đặt trong một I-language riêng biệt như thế nào đi nữa. Như vậy, mục đích chính của chương trình nghiên cứu này là nhằm khám phá ra một thứ tương tự như “bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học”, thứ sẽ giải thích tại sao chỉ một số lượng rất nhỏ các hệ thống ngôn ngữ khả hữu có thể tồn tại và được thụ đắc theo cách thông thường.

Chú ý rằng cách tiếp cận P&P chỉ là một chương trình chứ không phải một lý thuyết cụ thể. Nó là một khung để xây dựng nên các lý thuyết theo những cách thức khác nhau. Nó đã chứng tỏ là một chương trình rất có năng suất, cho ra rất nhiều nghiên cứu trên một diện loại hình học rất rộng, và cũng sâu hơn bất kể giai đoạn nào trước đây. Một kiểu loại các hiện tượng phong phú chưa từng biết đến đã được khai mở, hé lộ nhiều tri kiến mới và cũng đặt ra không ít thử thách với những vấn đề mới. Chương trình này cũng gợi mở nhiều vấn đề mới đáng để nghiên cứu trong địa hạt thụ đắc ngôn ngữ và các địa hạt khác có liên quan. Có lẽ không thể có một giai đoạn nào khác trong lịch sử có thể cho chúng ta nhiều hiểu biết đến thế về ngôn ngữ loài người. Chắc chắn những địa hạt khác có liên quan đến ngôn ngữ cũng như vậy.

Cách tiếp cận P&P, như đã trình bày, hứa hẹn sẽ giải quyết được căng thẳng giữa hai mục tiêu tìm kiếm thỏa đáng mô tả và thỏa đáng giải thích; ít nhất là trên nguyên tắc và đến một chừng mực nào đó trên thực tế. Ngay từ ban đầu, điều này là khả thi, ít nhất trong việc nhìn thấy viễn cảnh một lý thuyết chân chính về ngôn ngữ sẽ dung hòa cả điều kiện về thỏa đáng mô tả lẫn điều kiện về thỏa đáng giải thích. Viễn cảnh này cho phép chúng ta ấp ủ thêm những câu hỏi sâu xa hơn trong cách tiếp cận sinh-ngôn ngữ học, những vấn đề đã được ngầm đặt ra khi nói về ngữ pháp tạo sinh ở trên: làm cách nào để vượt qua ranh giới thỏa đáng giải thích?

Từ lâu người ta đã biết rằng chọn lọc tự nhiên (natural selection) xảy ra theo một “kênh” khả năng được thiết lập bởi các quy luật tự nhiên, và rằng bản chất của các tổ chức sinh học không thể được mô tả chính xác nếu ta chưa nắm bắt được các quy luật của tự nhiên tham gia vào quá trình xác định những cấu trúc, hình thái và đặc tính của chúng. Những nghiên cứu kinh điển về vấn đề này thuộc về D’Arcy Thompson và Alan Turing, những người tin rằng chúng rốt cuộc sẽ là những chủ đề trung tâm của lý thuyết tiến hóa và lý thuyết phát triển các tổ chức sinh học (morphogenesis). Những câu hỏi tương tự cũng xuất hiện trong địa hạt nghiên cứu các hệ thống tri nhận, cụ thể là FL. Khi nào chúng ta có thể trả lời những câu hỏi này, khi đó chúng sẽ vượt qua ranh giới của thỏa đáng giải thích.

9780262531283

Ngày nay, những nghiên cứu làm sáng tỏ những chủ đề trên thuộc về cái gọi là “chương trình tối thiểu luận” (the minimalist program). Việc nghiên cứu UG nhằm xác định đặc tính nào là của ngôn ngữ  và những nguyên lí và tham số của nó là gì, nếu như cách tiếp cận P&P đi đúng hướng. Chương trình tối thiểu luận đặt câu hỏi tại sao ngôn ngữ lại được cấu trúc dựa trên những đặc tính này mà không phải những đặc tính khác. Cụ thể hơn, ta sẽ tìm cách xác định đến mức độ nào thì những đặc tính của ngôn ngữ có thể được phái sinh từ những đặc tính chung của các tổ chức sinh học phức tạp và từ những điều kiện mà FL bắt buộc thỏa mãn để có thể sử dụng được: “những điều kiện giao diện” (interface conditions) được thiết lập bởi các hệ thống vận động cảm giác – “sensorimotor” (SM) và các hệ thống tư duy và hành vi – thường gọi là các hệ thống khái niệm-nội hàm – “conceptual-intensional” (CI). Ta có thể hiểu một I-language như là một hệ thống kết nối SM với CI bằng việc tạo sinh các biểu thức “thích hợp” (legible) với từng hệ thống đó. Những hệ thống này (SM và CI) tồn tại độc lập với ngôn ngữ. Vì những trạng thái của FL là những hệ thống tính toán (computational systems), đặc tính chung của chúng khiến chúng ta quan tâm đặc biệt là những đặc tính liên quan đến việc tính toán hiệu quả. Một luận đề rất quan trọng của tạo sinh luận đó là FL là một lựa chọn tối ưu cho vấn đề kết nối SM với CI, theo nghĩa tự nhiên của sự tính toán tối ưu (optimal computation).

Giống như cách tiếp cận P&P, chương trình Tối thiểu luận cũng chỉ là một khung nghiên cứu để thiết lập các câu hỏi, từ đó để chúng ta đi kiếm tìm những câu trả lời. Trong bối cảnh đó, những câu hỏi vẫn có khả năng bị thiết lập sai hoặc cần phải được xem xét lại. Chương trình này, tương tự những nỗ lực ban đầu, nhằm đi tìm lý thuyết tốt nhất mô tả FL và các trạng thái của nó. Tuy nhiên, những câu hỏi mà nó đặt ra được sắp xếp theo một trật tự khác, khó và cũng hấp dẫn hơn: liệu có khả năng FL và các trạng thái của nó là tối ưu, theo một nghĩa thú vị nào đó? Nếu thật sự như vậy, chắc chắn nó sẽ là một khám phá đầy gợi mở. Trong mấy năm vừa rồi, đã có nhiều nghiên cứu về những chủ đề này từ nhiều góc độ khác nhau và hứa hẹn đạt được nhiều kết quả cũng như, tôi nghĩ, nhiều vấn đề và nghịch lý mới.

Cho tới khi chương trình này thành công, nó sẽ cung cấp nhiều bằng chứng hơn nữa để chứng minh luận đề của Galileo – nguồn cảm hứng của khoa học hiện đại: “tự nhiên là hoàn hảo” (nature is perfect). Chứng minh luận đề đó là công việc của các nhà khoa học, cho dù là bằng nghiên cứu các quy luật chuyển động, hay cấu trúc bông tuyết, hay cấu tạo và sự sinh trưởng của một bông hoa,  hay là hệ thống phức tạp nhất mà chúng ta từng biết đến – não người.

Các nghiên cứu ngôn ngữ 50 năm qua đã gặt hái rất nhiều kết quả và còn hứa hẹn nhiều khám phá thú vị khác ở phía trước, không chỉ trong địa hạt ngôn ngữ học hẹp đã phác thảo ở trên mà còn theo những đường hướng mới với hy vọng thậm chí có một ngày ngôn ngữ học sẽ hợp nhất với thần kinh học – viễn cảnh trêu ngươi đó có lẽ đang ở cuối chân trời.

Noam Chomsky

Institute Professor at MIT


Chú thích:

[1] Xem thêm Trịnh Hữu Tuệ (2003), Chomsky, ngôn ngữ, Quốc Việt…., Talawas. http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=156&rb=06

[2] Hiểu một cách đơn giản, với một hàm số y = f(x) thì ở đây, f là S-0, x là PLD và y là L.

[3] Xem thêm Mark Baker (2001), The atoms of language (Nguyên tử ngôn ngữ), Basic Books.

Advertisements