Phần II: chức năng của ngôn ngữ và cách tiếp cận sinh-ngôn ngữ học

Dù những quan sát đã nhắc ở phần trước không chỉ dựa trực tiếp vào việc nghiên cứu ngôn ngữ tự nhiên, thì người ta vẫn cho rằng FL trên một số khía cạnh hoàn toàn tách biệt về sinh học theo nghĩa nó là một đặc tính giống loài hơn là một tài sản chung của loài người một cách đơn thuần. Đơn cử một khía cạnh rõ rệt nhất, một I-language là một hệ thống sản sinh sự vô hạn trừu tượng, một quá trình tạo sinh (generative process) cho ra vô hạn các biểu thức xét về quy mô (range) cấu trúc, mỗi một biểu thức cấu trúc đi liền với một thực thể âm thanh và ý nghĩa. Những hệ thống sản sinh sự vô hạn trừu tượng là hiếm có trong thế giới sinh học và không tìm thấy ở bất cứ một hệ thống giao tiếp của một loài nào khác ngoài con người. Khi chúng ta nhìn sâu hơn những đặc tính cơ bản nhất của ngôn ngữ tự nhiên, tính chất độc nhất vô nhị của nó càng không cần phải bàn cãi. Trên một số khía cạnh cơ bản, ngôn ngữ tự nhiên nằm ngoài các tiêu chí loại hình tiêu chuẩn thuộc về một hệ thống giao tiếp của động vật. Vì vậy, rất thiếu cơ sở để ức đoán rằng cơ quan ngôn ngữ loài người tiến hóa từ một hệ thống giao tiếp của động vật hoặc cho rằng “chức năng chủ yếu” (“primary function”) của ngôn ngữ là giao tiếp (một khái niệm cho đến nay vẫn không rõ ràng). Ngôn ngữ dĩ nhiên có thể được sử dụng để giao tiếp, như bất kì việc gì khác mà con người có thể thực hiện, tuy nhiên, thay đổi quan niệm truyền thống cho rằng chức năng ngôn ngữ chủ yếu là công cụ để thể hiện tư duy là không hợp lí. Vì rằng, nói theo quan điểm thống kê, rõ ràng người ta vẫn sử dụng ngôn ngữ để nghĩ nhiều hơn để nói. Bạn có thể tự mình dễ dàng kiểm nghiệm điều đó.

Theo quan điểm nội tại, việc nghiên cứu ngôn ngữ là một phần của sinh học (biology), bên cạnh việc nghiên cứu các hệ thống sinh học khác như hệ thống thị giác (của sinh vật), “cơ quan nhảy múa” và xác định phương hướng của ong, hệ thống tuần hoàn và tiêu hóa .v.v. của các tổ chức sinh học (organisms). Các hệ thống này có thể được nghiên cứu trên những cấp độ khác nhau. Riêng đối với các hệ thống tri nhận,  các cấp độ này thường được gọi một cách không chính thức là “cấp độ tâm lý” (“psychological level”) và “cấp độ sinh lý” (“physiological level”). Một nhà nghiên cứu về ong có thể nỗ lực để xác định và mô tả đặc điểm quá trình tính toán được thực hiện bởi hệ thống thần kinh của ong khi nó phát và nhận thông tin về một nguồn mật ở xa, hoặc khi nó đang tìm cách quay về tổ: đây chính là cấp độ phân tích “tâm lý”. Hoặc giả anh ta cũng có thể cố gắng để tìm hiểu cơ sở thần kinh nào cho phép những khả năng tính toán này của ong, một chủ đề mà chúng ta còn hiểu biết rất ít ngay với những tổ chức sinh học đơn giản nhất: đây chính là cấp độ phân tích “sinh lý”. Hẳn nhiên đây là hai công việc này liên quan tới nhau và hỗ trợ nhau. Những kết quả có được từ “cấp độ sinh học” thường dẫn dắt các nhà khoa học tới các nghiên cứu về cơ chế thần kinh và ngược lại, những phát kiến trong lĩnh vực cơ chế thần kinh có thể giúp các nghiên cứu về tâm lý hé lộ những đặc tính về tổ chức trên nhiều khía cạnh khác nhau.

7f05ba276384097a4676d5c5c2ccaa4b.1500

Theo một cách thức tương tự, việc nghiên cứu các phản ứng hóa học, đặc tính hóa học và những thực thể có cấu trúc liên quan cũng hỗ trợ rất nhiều cho vật lý cơ bản (fundamental physics), chúng đã thúc đẩy sự hợp nhất cuối cùng của hai ngành này. 75 năm trước, Bertrand Russell, một người rất am tường khoa học, từng phát biểu: “cho đến nay, quy luật hóa học không thể giản lược thành quy luật vật lý được”. Ý kiến đó đúng, nhưng đã lỗi thời. Đúng là trên nguyên tắc, những quy luật hóa học không thể được giản lược thành quy luật vật lý, theo đúng cách hiểu của vật lý thời bấy giờ. Tuy nhiên, sự hợp nhất hóa học với vật lý đã đến sau đó chừng vài năm sau khi cuộc cách mạng  về lý thuyết lượng tử (quantum) bắt đầu. Đó chẳng phải là một chương đặc biệt trong lịch sử khoa học hay sao? Vì vậy, chúng ta cũng hoàn toàn không thể đoán định trước được thành quả tương lai của những nỗ lực hiện tại nhằm hợp nhất hai cấp độ “tâm lý” và “sinh lý” trong việc nghiên cứu các khả năng tri nhận của các tổ chức sinh học, trong đó có ngôn ngữ.

Việc hợp nhất vật lý và hóa học để lại cho chúng ta nhiều bài học quan trọng. Hãy nhớ rằng hai ngành khoa học mũi nhọn này quan tâm đến những cấu trúc đơn giản và sơ cấp nhất của thế giới. Chúng không nghiên cứu những thực thể có cấu trúc đặc biệt phức tạp. Trước khi hợp nhất, việc một nhà khoa học hàng đầu cho rằng các nguyên lý và thực thể hóa học giả định (postulated entities) nào đó chỉ là những công cụ tính toán, chúng có ích cho việc tiên đoán các hiện tượng nhưng lại thiếu một đặc tính bí ẩn đó là “hiện thực vật lý” (“physical reality”). 100 năm trước, các nhà khoa học hàng đầu đều coi nguyên tử và phân tử theo những cách giống nhau. Người ta tin vào lý thuyết phân tử gas chỉ vì họ quen với trò bi-da, Poincarre đã từng mỉa mai như vậy. Nhà vật lý Ludwig Boltzmann chết trong nỗi tuyệt vọng một thế kỉ trước vì ông cảm thấy bất lực trong việc thuyết phục các đồng nghiệp của mình về hiện thực vật lý của học thuyết nguyên tử mà ông là một trong số những người sáng lập. Ngày nay, ai cũng hiểu đó đều là hiểu lầm chung của thời đại. “Nguyên tử” của Boltzmann hay “phân tử” của Kekule hay cho dù là những thực thể giả định nào khác cũng đều là thực (real) theo đúng một nghĩa duy nhất mà chúng ta biết: chúng có vị trí quyết định để giải thích tốt nhất một hiện tượng nào đó trong khả năng mà bộ não chúng ta cho phép.

Những bài học trên cũng áp dụng cho cả việc nghiên cứu các cấu trúc và khả năng tri nhận, bao gồm: các lý thuyết về tìm phương hướng ở các loài côn trùng,  sự tri giác những vật thể cứng trong chuyển động, hoặc I-language .v.v. Các nhà nghiên cứu sẽ đi tìm kiếm những kiến giải tốt nhất, hướng tới việc hợp nhất các cấp độ phân tích theo những hướng và thuật ngữ khác nhau mà không cần phải hình dung trước sự hợp nhất đó sẽ như thế nào, hoặc thậm chí đặt câu hỏi về tính khả thi của nó, vì xét cho cùng, trí tuệ con người cũng chỉ là một hệ thống sinh học chứ không phải là một công cụ toàn năng.

Như vậy, với cách tiếp cận “sinh-ngôn ngữ học” (“biolinguistic”), vấn đề cốt lõi của ngôn ngữ học bây giờ là việc nghiên cứu từng I-languages cụ thể, bao gồm trạng thái ban đầu cho đến những trạng thái phái sinh tiếp theo. Một luận đề có thể gây tranh cãi đó là việc nghiên cứu này cần phải được ưu tiên theo nghĩa nó cần phải được tiền giả định, cho dù có thể không hiển ngôn, trong tất cả các cách tiếp cận ngôn ngữ khác như: ngôn ngữ học xã hội, ngôn ngữ học so sánh – đối chiếu, phong cách học .v.v. Điều này là có lý, và trên thực tế là không thể chối cãi nếu như ta phân tích kĩ một nghiên cứu cụ thể nào đó. Tôi nghĩ rằng luận đề này luôn đúng bất kể thế nào đi nữa. Hoặc giả, không ai có thể phủ nhận được một luận đề nhẹ nhàng hơn nó, đó là: việc nghiên cứu khả năng ngôn ngữ của từng người nên có một vị trí cơ bản trong bất kì một nghiên cứu nghiêm túc nào về các mặt của ngôn ngữ, về việc sử dụng hay chức năng của nó. Cũng giống như việc ngành sinh học loài người (human biology) là thành tố cốt lõi trong các nghiên cứu nhân học, lịch sử, nghệ thuật hay bất cứ khía cạnh nào khác của đời sống con người. Và cũng giống như ngành sinh học loài người, cách tiếp cận “sinh-ngôn ngữ học” là một đường hướng thuộc về khoa học xã hội và nhân văn.

(hết phần hai)

Advertisements