Lời người dịch:

Tổng thống Obama từng nói đại ý: con người ta hành động vì nhiều mục đích khác nhau; có người vì tiền, người vì quyền lực, người vì những khích lệ cụ thể nhưng cũng có người được truyền cảm hứng từ những câu chuyện […]. Những câu chuyện đứng đằng sau sự thành công của nước Mĩ, theo Obama, là những câu chuyện tuyệt vời, chẳng hạn như câu chuyện về độc lập, câu chuyện “tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng[1].

Tôi hoàn toàn tán đồng quan điểm của Tổng thống Obama, tuy muốn nói thêm rằng: nếu như có thể phân chia loài người ra thành bốn nhóm theo bốn động cơ hành động trên, tôi tin rằng đa số các nhà khoa học sẽ thuộc vào nhóm cuối cùng – những người sống vì những câu chuyện. Câu chuyện mà tôi muốn chia sẻ với các bạn sau đây là một (trong nhiều) câu chuyện của ngôn ngữ học, một ngành khoa học xã hội và nhân văn vẫn còn rất non trẻ nếu so sánh với các ngành khoa học gạo cội khác như: toán học, vật lí học, sinh học hay sử học, triết học, kinh tế học .v.v. Tuy nhiên, chính nhờ vào câu chuyện này, câu chuyện được kể bởi một người kể chuyện vĩ đại giữa thời đại chúng ta đang sống (ông cũng là một người Mĩ) mà trong gần 60 năm lại đây, ngôn ngữ học đã có những thành tựu to lớn đóng góp chung cho tri thức nhân loại hơn bất kể một giai đoạn nào khác trong lịch sử hơn 2500 năm của mình (tính từ khi các triết gia Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại bàn về ngôn ngữ). Người kể chuyện vĩ đại tôi muốn nhắc đến ở đây, không ai khác, chính là Noam Chomsky, giáo sư ngôn ngữ học thuộc Học viện Công nghệ Massachusetts (Mĩ), một trong mười học giả ngành nhân văn, người duy nhất còn sống, được trích dẫn nhiều nhất (đứng trên Hegel và Cicero và chỉ đứng sau Marx, Lenin, Shakespeare, Kinh Thánh, Aristotle, Plato và Freud)[2]. Ông là người đã khai sinh ra lý thuyết ngữ pháp tạo sinh (Generative Grammar), học thuyết mô tả và giải thích kiến thức ngôn ngữ (knowledge of language), loại kiến thức mà không một loài sinh vật nào khác trên trái đất sở hữu, ngoại trừ loài người.

Câu chuyện về ngữ pháp tạo sinh được Noam Chomsky bắt đầu vào năm 1957 với công trình “Các cấu trúc cú pháp”. Cho đến nay, nó đã được phát triển, điều chỉnh và bổ sung rất nhiều nhờ công sức của chính Chomsky và các môn đệ. Nhờ đó, bức tranh về bản chất cũng như cấu trúc ngôn ngữ đã ngày một trở nên sáng rõ hơn bao giờ hết. Bài viết mà tôi xin giới thiệu sau đây được chính Chomsky chấp bút như là một đúc kết cho một chặng đường gần 50 năm (tính tới thời điểm bài viết ra đời) mà giới Tạo sinh luận đã đi qua. Không ít những giả thuyết được đặt ra từ ban đầu đã bị loại bỏ, nhưng những ý tưởng quan trọng nhất của Chomsky ngay từ “Các cấu trúc cú pháp” thì vẫn được bảo lưu và liên tục được bổ sung và phát triển trên cả chiều rộng lẫn chiều sâu, lý thuyết lẫn cứ liệu ngôn ngữ.

Một chân trời mới trong ngôn ngữ học thực sự đã mở ra phía trước và đang đón chờ những kẻ đam mê nó viết tiếp câu chuyện mà Chomsky đã bắt đầu…

Ngôn Thành, 4/6/2016

Chú thích:

[1] Xem cuộc đối thoại giữa Tổng thống Obama với 1000 bạn trẻ ở TP.Hồ Chí Minh, Việt Nam tại đường link sau (câu hỏi/câu trả lời số 8).

[2] Xem số liệu cụ thể tại đây: http://news.mit.edu/1992/citation-0415


Phần I: bước chuyển của ngôn ngữ học thế kỉ XX và bản chất của ngôn ngữ[1]

Đã một nửa thế kỉ trôi qua kể từ khi việc nghiên cứu ngôn ngữ được thực hiện theo một đường hướng mới song song với việc khơi lại những mối quan tâm cũ tưởng như đã bị lãng quên từ lâu. Tâm điểm của nó là việc chuyển trọng tâm nghiên cứu từ hành vi ngôn ngữ và các sản phẩm hành vi ngôn ngữ (như văn bản, khối liệu .v.v.) sang các cơ chế nội tại (internal mechanisms) tham gia vào các hành vi ngôn ngữ. Sự chuyển biến trong ngôn ngữ học này là một phần của cuộc cải cách từ tâm lý học hành vi sang cái gọi là “khoa học tri nhận” (“cognitive science”) và trên thực tế, nó đã đóng một vai trò hết sức quan trọng trong tiến trình phát triển chung của “khoa học tri nhận”.

chomsky1

Với việc lựa chọn cách tiếp cận khác với cách tiếp cận của chủ nghĩa cấu trúc và hành vi luận vốn khi đó đang rất thịnh hành, đối tượng nghiên cứu của nó giờ đây là một thứ tài sản cá nhân, tài sản của một con người cụ thể ví dụ như cháu gái của tôi chẳng hạn. Câu hỏi đặt ra là, cái tài sản đặc biệt mà mỗi con người đều sở hữu cho phép khả năng kỳ diệu nhưng có thực một cách hiển nhiên đó của con người là gì? Trong thế giới âm thanh, một thế giới “rì rầm rầm rì hỗn loạn” (“buzzing, booming confusion” – chữ của William James), một người có thể ngay lập tức nhận diện ra đâu là âm thanh của ngôn ngữ trong thế giới đó, hơn thế, họ còn có thể thực hiện những thao tác phân tích, một cách vô thức, để cho phép kết luận một hệ thống ngôn ngữ cụ thể nào đó, khi thì là một biến thể của cái bình thường ta vẫn gọi là “tiếng Anh”, khi thì là một biến thể của “tiếng Tây Ban Nha”. Nó hoàn toàn có thể chỉ là một ngôn ngữ của người Trung Quốc, hay một phương ngôn của Australia, hay bất kì một ngôn ngữ tự nhiên nào khác. Và tại sao trong cùng một môi trường như vậy, những con mèo của chúng ta (hay con hắc tinh tinh (chimpanzee) .v.v.) lại không thể thực hiện được ngay từ bước nhận diện âm thanh ngôn ngữ đầu tiên, cũng giống như việc chúng ta không thể nhận diện âm thanh mà một con ong tiếp nhận trong điệu múa vo ve của nó thông tin về khoảng cách cũng như phương hướng của một nguồn mật ong.

Tất cả các tổ chức sinh học (organisms) đều có những tiểu hệ thống (subsystems) làm nhiệm vụ dẫn dắt chúng tương tác với môi trường theo những cách thức riêng. Một số tiểu hệ thống như vậy thường được gọi là cơ quan “tinh thần” (“mental”) hay “tri nhận” (“cognitive”) mà ranh giới của chúng không nhất thiết phải được vạch ra một cách chính xác, giống như việc ta không cần xác định chính xác ranh giới giữa hóa học với sinh học. Sự phát triển của các hệ thống tri nhận, giống như các hệ thống sinh học khác, bị ảnh hưởng bởi môi trường, nhưng nhìn chung nó chủ yếu vẫn được quy định bởi gen. Chẳng hạn, những thay đổi về dinh dưỡng có thể có tác động sâu sắc tới sự phát triển của chúng nhưng chắc chắn sẽ không thể biến một phôi thai người thành một con ong hay một con chuột, điều này cũng đúng với quá trình phát triển tri nhận. Người ta đã chứng minh thuyết phục rằng trong các hệ thống tri nhận của người, có một hệ thống gọi là “cơ quan ngôn ngữ” (“faculty of language” – FL), một tiểu hệ thống (chủ yếu) nằm trong não bộ. Cũng có những bằng chứng thuyết phục khác từ các nhà bệnh lý học cho thấy, FL gần như là đồng bộ cho tất cả mọi người và là một tài sản duy nhất loài người sở hữu. “Trạng thái ban đầu” (“initial states”) của FL được quy định từ nguồn gen chung của loài người. Dần dần nhờ tiếp xúc với môi trường bên ngoài, FL trải qua các trạng thái tiếp theo và thường đạt tới sự ổn định tương đối vào tuổi dậy thì, sau thời điểm này những sự thay đổi (nếu có) đều thuộc về ngoại biên, tức chủ yếu là sự gia tăng về mặt từ vựng.

chomsky2

Với những gì chúng ta biết được cho tới nay, mỗi khía cạnh của ngôn ngữ – âm thanh, cấu trúc, ý nghĩa các từ và các biểu thức phức tạp hơn từ – đều bị giới hạn ngặt nghèo bởi các đặc tính của trạng thái ban đầu trên. Những giới hạn đó làm nền tảng và lý giải cho sự phong phú và biến hóa phi thường của các hệ thống ngôn ngữ phái sinh. Sự thực hiển nhiên là quy mô và giới hạn chắc chắn có liên hệ mật thiết với nhau. Nguồn gen sinh học cho phép một bào thai trở thành chuột, cho dù có ít “thông tin” về môi trường bên ngoài nhất, sẽ ngăn chặn bào thai đó trở thành một con ruồi hay một con khỉ. Điều này cũng phải đúng đối với các cơ quan tinh thần cao cấp hơn của loài người, với giả thiết con người là một giống loài sinh học chứ không phải là thần tiên trên trời.

Với những trạng thái kế tiếp của FL, bao gồm “trạng thái ổn định” (“stable states”), chúng ta có thể coi chúng là “những ngôn ngữ”: hoặc nói theo thuật ngữ kĩ thuật hơn là “những ngôn ngữ nội hóa” (“internalized languages” – I-languages). Sở hữu một I-language tức là được trang bị một công cụ để thực hiện cái gọi là “sử dụng sáng tạo ngôn ngữ” (“creative use of language”), khía cạnh từng được Descartes và các môn đệ coi như là chỉ báo chính cho việc sở hữu tâm trí. Một người nào đó có thể sản sinh ra những biểu thức ngôn ngữ hoàn toàn mới mà không giới hạn về số từ, thích hợp với một tình huống hoặc hoàn cảnh bất kì mà không phải là chủ đích của anh ta, và kích hoạt sự suy nghĩ của người khác, những người cũng có khả năng tương tự như anh ta. Bản chất của những khả năng này vẫn còn là một dấu hỏi lớn buộc chúng ta phải suy ngẫm giống như những học giả đi theo Descartes. Tuy nhiên, nhờ sự chuyển hướng sang “ngôn ngữ học nội tại” (“internal linguistics”) mà rất nhiều tri kiến mới mẻ về các cấu trúc cũng như hoạt động tri nhận tham gia vào những khả năng đặc biệt trên đã được hé lộ cho chúng ta.

          (hết phần một)

Chú thích:

[1] Nguyên bản bài viết của Chomsky không chia phần. Việc chia phần và đặt tên cho từng phần là kiến giải của người dịch nhằm giúp các độc giả tiếp cận có hệ thống hơn bài viết cũng như tư tưởng của Chomsky.

Advertisements