1. Đặt vấn đề

Sự lưỡng phân “ngữ năng” (competence) và “ngữ hành” (performance) của N.Chomsky có liên hệ từ sự lưỡng phân “ngữ ngôn” (langue) và “lời nói” (parole) của F.de Saussure. Điều đáng nói là không ít sinh viên vẫn thường chưa hiểu rõ sự liên hệ giữa hai cặp khái niệm này, dẫn đến nhiều khi đánh đồng chúng với nhau. Lí do của hiện trạng này là vì trong các tài liệu ngôn ngữ học hiện nay, nhiều tác giả do không minh định rõ sự khác biệt giữa chúng mà chỉ trình bày một cách sơ lược nên vô tình đã khiến nhiều độc giả cảm thấy bối rối, mập mờ (cf. Lyons 1996:93; Vũ Thị Thanh Hương et al. 2006:7). Vậy cụ thể “ngữ năng – ngữ hành” giống và khác gì với “ngữ ngôn – lời nói”? Đâu là sự cách tân của Ngữ pháp tạo sinh từ Cấu trúc luận của F.de Saussure? Cơ sở cũng như hệ quả phương pháp luận của chúng là gì? Bài viết này sẽ cố gắng làm sáng tỏ những khía cạnh trên.

2. Ngữ ngôn – lời nói và ngữ năng – ngữ hành

2.1. Bức tranh không rõ ràng về hai cặp phạm trù này có thể tìm thấy rất nhiều trong các tài liệu ngôn ngữ học. Ví dụ, trong Lyons (1996: 93) viết: “[…] Chomsky mới đây đã phỏng theo sự phân biệt đó mà đưa ra những từ ngữ “năng lực” (competence) và “sự thực hiện” (performance) ngôn ngữ”. Hay trong Vũ Thị Thanh Hương et al. (2006:7), trong lời giới thiệu cuốn sách, Lương Văn Hy viết: “Một tác động lớn của cấu trúc luận là sự phân định ngôn ngữ (langue) và lời nói (parole), xem ngôn ngữ là một sự kiện xã hội với những quy luật thuần nhất cho mỗi ngôn ngữ […] (Hơn nửa thế kỉ sau, nhà ngôn ngữ học nổi tiếng Noam Chomsky cũng có hai khái niệm cơ bản tương đồng, năng ngôn [linguistic competence] và ngôn hành [linguistic performance] với khác biệt chính là năng ngôn được xem là có nguồn gốc ở yếu tố di truyền, có tính phổ quát cho con người nói chung, thay vì là một sự kiện xã hội)[1].  Ý kiến của Lương Văn Hy tuy có nói lên một khía cạnh khác biệt giữa ngữ năng (competence) và ngữ ngôn (langue) là nguồn gốc, song giống với ý kiến của John Lyons, chúng đều rất sơ lược và không nói lên được điểm khác biệt cốt lõi của hai khái niệm này, đó là khía cạnh về bản thể luận. Đây cũng chính là tiêu điểm mà chúng ta sẽ tập trung thảo luận trong những phần tiếp theo.

2.2. Một trong những công lao của Saussure với ngôn ngữ học đại cương đó là việc bóc tách bản thể ngôn ngữ, vốn trước đó vẫn chỉ được coi là một khối “ngôn ngữ” (langage) chung chung, ra thành hai bộ phận cụ thể là “ngữ ngôn” (langue) và “lời nói” (parole). Trong Giáo trình ngôn ngữ học đại cương (viết tắt: Giáo trình), Saussure lần lượt phân biệt ngôn ngữ (langage) với ngữ ngôn (langue), ngữ ngôn (langue) với lời nói (parole).

Nhưng ngôn ngữ (langue) là gì? Đối với chúng tôi, nó không đồng nhất với hoạt động ngôn ngữ (langage)[2]. Nó chỉ là một bộ phận nhất định của hoạt động ngôn ngữ tuy là bộ phận cốt yếu […] Nhìn chung toàn bộ, hoạt động ngôn ngữ vốn đa dạng và kỳ lạ; nó đã cưỡi lên nhiều lĩnh vực, vừa vật lý, vừa sinh lý, vừa tâm lý, lại còn liên quan đến lĩnh vực cá nhân, lĩnh vực xã hội nữa; không thể đem xếp nó vào một phạm trù nào của các sự kiện nhân loại, vì người ta không biết làm thế nào để xác định tính thống nhất của nó.

Ngược lại, ngôn ngữ tự nó là một thể hoàn chỉnh và một nguyên lý phân loại […]”(cf. Saussure 2005: 43-44).

Tách ngôn ngữ ra khỏi lời nói, người ta đồng thời cũng tách luôn: 1. Cái gì có tính chất xã hội với cái gì có tính chất cá nhân; 2. Cái gì có tính chất cốt yếu với cái gì có tính chất thứ yếu và ít nhiều ngẫu nhiên […]” (cf. Saussure 2005: 50)

Sự phân biệt giữa ngữ ngôn – lời nói đã đánh dấu một bước phát triển mới trong tiến trình nhận thức của con người về hiện tượng ngôn ngữ nói chung và phương pháp luận nghiên cứu ngôn ngữ nói riêng. Theo đó, việc nghiên cứu ngôn ngữ gồm hai bộ phận: một bộ phận chủ yếu nghiên cứu về ngữ ngôn, và một bộ phận thứ yếu nghiên cứu về lời nói. Với Saussure, ngôn ngữ học chỉ có thể là ngôn ngữ học của ngữ ngôn mà thôi (cf. Saussure 2005: 60). Đây chính là xuất phát điểm của ngôn ngữ học trường phái Geneva. Nó đã tác động không nhỏ lên phương pháp luận của một loạt các trường phái ngôn ngữ học hậu Saussure trong đó có Tạo sinh luận của N.Chomsky.

2.3. Trong Lý thuyết chuẩn (Standard Theory) được trình bày trong Các bình diện của lý thuyết cú pháp (1965) của mình, Chomsky đề ra sự phân biệt giữa ngữ năng (competence) – ngữ hành (performance) như là khởi điểm của việc nghiên cứu ngôn ngữ. Ngữ năng là kiến thức ngôn ngữ (knowledge of language) của những người nghe – người nói lý tưởng trong khi đó ngữ hành chính là việc sử dụng ngôn ngữ trên thực tế, trong những tình huống cụ thể. Kiến thức ngôn ngữ được hiểu ở đây không mang tính có ý thức (như kiến thức nấu ăn, đi xe đạp .v.v.) mà là những tri thức mang tính vô thức (như “kiến thức” đi đứng, nhìn, ngửi .v.v.). Một người Việt không cần biết quy tắc tạo câu hỏi vẫn có thể sử dụng câu hỏi một cách bình thường.

9780262530071

Các bình diện của lý thuyết cú pháp (1965)

Đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học là ngữ năng, tức tập hợp những tri thức ngôn ngữ mang tính vô thức (subconscious) (cf. Radford 2004:7). Việc quan sát ngữ hành có thể đóng vai trò nào đó trong việc cung cấp bằng chứng cho lý thuyết ngôn ngữ – một thực thể tâm lý (mental reality) nhưng không thể là đối tượng nghiên cứu đích thực của ngôn ngữ học. Ở đây, Chomsky không giấu giếm sự kế thừa của mình từ Saussure cặp khái niệm “langue – parole” (cf. Chomsky 1965:4). Lời nói cũng giống như ngữ hành không phải là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học vì nó mang tính chủ quan. Ngữ liệu có được từ lời nóingữ hành bị chi phối bởi quá nhiều yếu tố ngoài ngôn ngữ (extra-linguistic) mà nhà nghiên cứu khó có thể kiểm soát được (trí nhớ người nói, thời tiết, thói quen .v.v.). Nên cho dù mối quan hệ giữa lời nói – ngữ ngôn có như “hai mặt của một tờ giấy”; còn ngữ hành, nói theo Chomsky, là hình ảnh phản chiếu ngữ năng (nhưng là một “hình ảnh không hoàn hảo”) thì đối tượng nghiên cứu đích thực của ngôn ngữ học vẫn phải là ngữ ngôn và ngữ năng.  Qua đây có thể thấy rằng, nội hàm lời nói của Saussure gần như trùng khít với nội hàm ngữ hành của Chomsky.

2.4. Tuy nhiên, lí do Chomsky phản đối hệ thuật ngữ của Saussure là vì nội hàm ngữ ngônngữ năng khác nhau. Trong Giáo trình, Saussure định nghĩa ngữ ngôn như là một hệ thống, hay một tập hợp có cấu trúc các dấu hiệu (signs) mang tính tâm lý gồm hai mặt sở biểunăng biểu. Ông nhắc đi nhắc lại luận điểm này rất nhiều lần (cf. Saussure 2005: 52, 53, 222, 231 .v.v.). Từ việc coi bản chất của ngữ ngôn là một kho dấu hiệu, nói cách khác, một “kho từ” mang tính thiết chế xã hội, Saussure dường như đã coi việc tạo câu (sentence formation) là hiện tượng thuộc về địa hạt lời nói, tức một hiện tượng cá nhân (hoặc nói như Chomsky là lằn ranh giữa ngữ ngôn và lời nói) và hệ quả là ngôn ngữ học cấu trúc luận (structural linguisitcs) chỉ tập trung miêu tả hệ thống từ ngữ mà xem nhẹ việc miêu tả những quy tắc tạo câu ẩn sau bức màn của từ ngữ.  Chomsky đã phê phán cách tiếp cận thiên lệch này của Saussure. Ông viết:

Nói chung, các nhà miêu tả luận hiện đại ít để ý đến khía cạnh “sáng tạo” của ngôn ngữ; họ tránh các vấn đề liên quan tới miêu tả hệ thống các quy tắc tạo sinh nối kết các mô tả cấu trúc với các phát ngôn tùy ý; những quy tắc biểu hiện cho kiến thức ngôn ngữ cũng như ngữ năng trong đó của người nói”. (cf. Chomsky 1964: 23).

Nói cách khác, trong khi Ngôn ngữ học Cấu trúc luận của F.de Saussure chỉ quan tâm chủ yếu đến câu hỏi cấu trúc của một hệ thống ngôn ngữ như thế nào, thì Tạo sinh luận chủ yếu tập trung trả lời cho câu hỏi: con người có thể nói được những gì vì sao con người có được khả năng đó. Giả thiết của Tạo sinh luận là con người có khả năng tạo ra vô hạn các câu đúng ngữ pháp (tức một cộng đồng ngôn ngữ nào đó hoàn toàn chấp nhận). Tuy nhiên, khả năng hữu hạn của trí óc con người rõ ràng không cho phép chúng ta ghi nhớ một bộ “từ điển” vô hạn các câu như thế. Vì vậy, chắc chắn phải tồn tại một bộ quy tắc hữu hạn (finite) giúp con người có được khả năng “sáng tạo” ngôn ngữ đó.  Chomsky gọi bộ quy tắc đó là ngữ năng, tức tập hợp các quy tắc mang tính tâm lý giúp con người có thể tạo sinh ra vô hạn các câu đúng ngữ pháp (grammatical).

Như vậy, mặc dù có cùng bản chất tâm lý như nhau song nếu như hình dung việc sử dụng ngôn ngữ là việc kết hợp các đơn vị (từ, ngữ) với nhau để tạo ra các biểu thức ngôn ngữ (câu/phát ngôn) thì đối tượng nghiên cứu của Cấu trúc luận chính là bản thân các đơn vị đó và giá trị (value) của chúng trong hai mối quan hệ hệ hình (paradigmatic)cú đoạn (syntagmatic); còn đối tượng Tạo sinh luận lại là các quy tắc giúp ta có thể cấu tạo (form) và giải nghĩa (interprete) các biểu thức ngôn ngữ. Điều cần tránh hiểu nhầm ở đây đó là tập hợp các quy tắc giúp tạo sinh câu không đơn thuần chỉ là những quy tắc cú pháp. “Ngữ pháp” theo truyền thống chỉ bao hàm “từ pháp” và “cú pháp”. Tuy nhiên, khái niệm “ngữ pháp” theo cách dùng của Chomsky thì rộng hơn, bao hàm ba bộ phận gồm: ngữ âm – cú pháp – ngữ nghĩa; trong đó, cú pháp đóng vai trò cầu nối giữa hai bộ phận còn lại. Tập hợp các quy tắc bao gồm các quy tắc của cả ba bộ phận trên. Nói cách khác, ngữ năng bao hàm kiến thức ngôn ngữ của người nói-người nghe lý tưởng trên cả ba bình diện ngữ âm – cú pháp – ngữ nghĩa. Từ điểm xuất phát này, trong những phiên bản tiếp theo của ngữ pháp Tạo sinh mà gần đây nhất là Chương trình Tối giản luận (Minimalist Program) (cf. Chomsky 1993,  1995), Chomsky đã làm rõ hơn khái niệm về ngữ năng (ông dùng thuật ngữ mới là “I-language”) như là một tập hợp các quy tắc bên cạnh một bộ phận khác gọi là Danh sách (Lexicon). Danh sách được hiểu như là một tập hợp các từ/đơn vị từ vựng trong một ngôn ngữ cùng những tính chất ngôn ngữ học (ngữ nghĩa, cú pháp, ngữ âm) của chúng (cf. Radford 2004: 9). Danh sách và các quy tắc (rules) chính là hai thành tố đóng vai trò “đầu vào” (input) của bộ phận cú pháp (syntactic component). Sự tương đồng rõ rệt giữa nội hàm danh sách (lexicon) của Chomsky và ngữ ngôn (langue) của Saussure như là một hệ thống tín hiệu hai mặt thực sự cho phép chúng ta nghĩ rằng, ngữ ngôn chính là danh sách theo cách hiểu của Tạo sinh luận. Theo đó, có thể khẳng định rằng, ngữ năng (tức quy tắc) là sự bổ sung của Chomsky vào học thuyết ngữ ngôn của Saussure. Nói cách khác, toàn bộ lý thuyết của Chomsky chính là sự kế thừa ngữ ngôn (tức danh sách) và mở rộng học thuyết về ngữ ngôn của Saussure bằng việc thêm cho nó một đối tượng nghiên cứu mới: các quy tắc thuộc về ngữ năng.

2.5. Tư tưởng cách tân của Chomsky được khơi nguồn từ W.von Humboldt, người cho rằng nhiệm vụ cao cả của ngôn ngữ học là phải trả lời được câu hỏi như thế nào và vì sao con người có thể tạo ra “vô hạn cách dùng từ những phương tiện hữu hạn” (“make infinite uses of finite means”). Tại sao con người có thể nói hoặc hiểu những câu mà chính họ thậm chí chưa từng bao giờ nghe hoặc nói ra? Hạn chế của Cấu trúc luận Saussure theo Tạo sinh luận là không nhìn thấy sự phong phú đáng ngạc nhiên của việc tạo sinh câu. Nói cách khác, Saussure và môn đệ của mình đã không quan tâm đến khía cạnh “sáng tạo” của ngôn ngữ. Sự khác biệt trong cách hiểu bản thể ngôn ngữ của Humboldt và Saussure, theo nhà triết học ngôn ngữ Voloshinov, cũng chính là sự đối lập giữa hai xu hướng triết học ngôn ngữ chủ đạo, chủ nghĩa chủ quan cá nhân (Humboldt) và chủ nghĩa khách quan trừu tượng (Saussure). Theo đó, trong khi chủ nghĩa chủ quan cá nhân coi ngôn ngữ là hoạt động sáng tạo mang tính cá nhân thì chủ nghĩa khách quan trừu tượng lại xem ngôn ngữ như là một hệ thống dấu hiệu tĩnh tại của một cộng đồng ngôn ngữ (cf. Voloshinov 2015[3]).

2.6. Cũng xuất phát từ sự khác biệt trong cách hiểu ngữ năng ngữ ngôn, Tạo sinh luận và Cấu trúc luận có cách lý giải khác nhau cho rất nhiều vấn đề quan yếu khác (ngoài đối tượng nghiên cứu) trong đó nổi bật là vấn đề thụ đắc ngôn ngữ (language acquisition) ở trẻ em. Theo Cấu trúc luận, việc thụ đắc ngôn ngữ chỉ là một cơ chế mang tính kinh nghiệm. Ngữ ngôn là một kho từ và trẻ em dần dần ghi nhớ kho từ này trong đầu, sau đó là sử dụng chúng. Whitney (1872), người có ảnh hưởng rất lớn đến Saussure, từng phát biểu:

Ngôn ngữ trong nghĩa cụ thể …[là]…tập hợp các từ ngữ mà nhờ nó con người có thể diễn đạt ý nghĩ của mình. [….] Việc thụ đắc ngôn ngữ ở trẻ em không có gì là bí ẩn cả. […] Một đứa trẻ, sau khi nghe một từ nào đó nhiều lần, sẽ dần học được ý nghĩa của từ đó và sau đó là cách phát âm lẫn cách dùng nó.”(cf. Chomsky 1964:22)

Trong khi đó, Tạo sinh luận lại thấy rằng việc trẻ em có thể thụ đắc được bất kì ngôn ngữ tự nhiên nào trên thế giới (tiếng Anh, tiếng Việt .v.v.) không đơn giản như thế. Đó thực sự là một điều kỳ diệu. Trẻ em có thể học được ngôn ngữ mặc cho môi trường ngôn ngữ xung quanh nó có nghèo nàn và đầy rẫy những khiếm khuyết đến mức nào. Làm sao chúng có thể biết được tất cả những quy tắc tạo sinh câu đúng từ những ngữ liệu chúng nghe được từ môi trường? Trẻ em không thể nào thu nạp tất cả những quy tắc tạo sinh câu đúng từ môi trường ngôn ngữ xung quanh đầy rẫy những khiếm khuyết[4]. Vậy một phần ngữ năng phải đến từ một nguồn khác. Chomsky gợi ý “nguồn khác” ở đây chính là sinh học và gọi phần ngữ năng được nạp vào trong não của đứa trẻ từ trước khi nó ra đời là Ngữ pháp Phổ quát (Universal Grammar). Ngữ pháp Phổ quát là chung cho tất cả ngôn ngữ loài người. Việc cất giữ Ngữ pháp Phổ quát lẫn thu nạp Ngữ pháp cá biệt (Particular Grammar), tức ngữ pháp của một ngôn ngữ cụ thể nào đó có được nhờ tiếp xúc giữa Ngữ pháp Phổ quát với môi trường ngôn ngữ bên ngoài, đều được thực hiện thông qua một cơ quan sinh học nằm trong não bộ mà Chomsky gọi là Thiết bị Thụ đắc Ngôn ngữ (Language Acquisition Device). Tóm lại, việc thụ đắc ngôn ngữ ở trẻ em theo Tạo sinh luận là một cơ chế mang tính bẩm sinh (innate). Đây cũng chính là một minh họa rõ nét cho sự tương phản giữa hai cách tiếp cận của chủ nghĩa duy lí (Tạo sinh luận) và chủ nghĩa kinh nghiệm (Cấu trúc luận Geneva) trong ngôn ngữ học nói chung.

3. Kết luận

Tóm lại, Tạo sinh luận của Chomsky phản đối cách hiểu đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học như là một tập hợp các thành tố, một kho dấu hiệu, tức ngữ ngôn của Saussure mà thay vào đó là tập hợp các quy tắc tạo sinh và kiến giải câu, tức ngữ năng. Hiểu rõ bản chất của ngữ ngôn – lời nói của Saussure cũng như ngữ năng – ngữ hành của Chomsky là hiểu rõ xuất phát điểm khác nhau của hai trường phái ngôn ngữ học lớn nhất hiện nay là Cấu trúc luận và Tạo sinh luận và một phần nào đó là cả Chức năng luận (trường phái coi đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học phải là lời nói – ngữ hành). Hiểu rõ sự khác biệt này cũng sẽ giúp ta tránh được sự hiểu nhầm không đáng có trong việc nhận diện và đánh giá những gia tài ngôn ngữ học hiện đại đã thừa hưởng từ vị cha đẻ của nó – Ferdinand de Saussure./.

 Chú thích

[1] Ngữ năng có một phần bẩm sinh, tức ngữ pháp phổ quát (Universal Grammar) nhưng cũng có phần xã hội. Phần xã hội của ngữ năng thể hiện ở chỗ nó chỉ được kích hoạt bởi những tiếp xúc từ môi trường ngôn ngữ, tức “kinh nghiệm – xã hội”. Trong những phần sau chúng ta sẽ làm rõ hơn những điểm này.

[2] Trong bài này tôi sử dụng hệ thuật ngữ của Nguyễn Thiện Giáp (2012), theo đó “ngôn ngữ” – “ngữ ngôn” – “lời nói” lần lượt tương ứng với “hoạt động ngôn ngữ” – “ngôn ngữ” – “lời nói” trong bản dịch của Cao Xuân Hạo và tương ứng với “langage” – “langue” – “parole” của F.de Saussure (1916).

[3] Xem thêm V.N. Voloshinov, Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ (Ngô Tự Lập dịch), NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2015.

[4] Lập luận này có tên gọi Sự nghèo nàn của các kích thích (the Poverty of Stimulus). Xem thêm Legate, Julie; Yang, Charles (2002). “Empirical re-assessment of stimulus poverty arguments”The Linguistic Review (19): 151–162

Tài liệu tham khảo

  1. Chomsky, N. (1957). Syntactic structures. Mouton.
  2. Chomsky, N. (1964). Current issues in linguistic theory. Mouton & Company.
  3. Chomsky, N. (1965). Aspects of the theory of syntax. M.I.T. Press.
  4. Chomsky, N. (1995). Minimalist Program. MIT Press.
  5. Lyons, J. (1996). Nhập môn ngôn ngữ học lý thuyết. (Vương Hữu Lễ dịch). NXB Giáo dục.
  6. McGilvray, J. et al. (2005). The Cambridge Companion to Chomsky. Cambridge University Press.
  7. Nguyễn Thiện Giáp. (2012). Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ. NXB Giáo dục Việt Nam.
  8. Radford, A. (2004). Minimalist syntax: Exploring the structure of English. Cambridge University Press.
  9. Saussure, F. de. (2011). Course in General Linguistics: Edited by Perry Meisel and Haun Saussy. (W. Baskin, Trans.). Columbia University Press.
  10. Saussure, F. de. (2005). Giáo trình ngôn ngữ học đại cương (Cao Xuân Hạo dịch). NXB Khoa học xã hội.
  11. Trịnh Hữu Tuệ. (2014). Bài giảng môn Cú pháp học, ĐHKHXH&NV.
  12. N. Voloshinov. (2015). Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ. (Ngô Tự Lập dịch). NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
  13. Vũ Thị Thanh Hương et al. (2006). Ngôn ngữ, văn hoá và xã hội: Một cách tiếp cận liên ngành (sách dịch). NXB Thế giới.

 

Advertisements