Ngày hôm qua, 24/3/2016, Tạ Chí Đại Trường, một trong những nhà sử học kiệt xuất nhất của Sử học Việt Nam, đã trút hơi thở cuối cùng, hoàn thành di nguyện “gửi nắm thân tàn” nơi đất mẹ.
Lâu nay, tác giả của “Những bài dã sử Việt”, “Thần, Người và Đất Việt”… và đặc biệt “Lịch sử nội chiến ở Việt Nam từ 1771 đến 1802″ luôn được coi là “must-confer-author” trong giới nghiên cứu lịch sử (history) Việt Nam trong lẫn ngoài nước. Và sự thực, ông được coi như là một trong “tứ trụ khác” của nền sử học Việt Nam, bên cạnh Nguyễn Phương, Lương Kim Định và Đào Duy Anh (thế hệ sử gia nổi tiếng trong giai đoạn trước 1975) theo như nhận định của Lê Minh Khải, tức GS. Liam Kelly (Đại học  Hawaii – Manoa), một học giả nước ngoài nghiên cứu lịch sử – sơ sử Việt Nam nổi tiếng trong bài viết “Global Scholarship and the Four Other Pillars of History in Vietnam” (2015) đăng trên blog của mình. Cá nhân tôi thấy bài viết  “The-Four-Other-Pillars” này của Lê Minh Khải rất thú vị, đặc biệt với câu hỏi tu từ có một vế câu điều kiện mà ông viết trong đoạn đầu bài:

[…] “as I read their writings, I can’t escape wondering what the state of historical scholarship, particularly scholarship about early history, would be like today if these four had set the foundation for future generations of historians”.

Câu này, trong bản tiếng Việt, được Hà Hữu Nga dịch như sau:

[…] “khi tôi đọc các công trình của họ, tôi không thể không băn khoăn tự hỏi tình trạng học thuật lịch sử, đặc biệt là học thuật lịch sử sớm liệu có như ngày hôm nay nếu bộ tứ này đặt được nền móng cho thế hệ các sử gia tương lai”.

Không bàn về phương diện ý nghĩa học thuật của nhận định trên mà bàn về phương diện dịch thuật, câu hỏi tu từ của Lê Minh Khải đặt ra một thách thức không nhỏ trong việc hiểu và chuyển dịch nó sang tiếng Việt sao cho tối ưu.

lsnc

Trước tác kinh điển nhất của sử gia Tạ Chí Đại Trường (21/6/1938 – 24/3/2016)

Điều đầu tiên có thể dễ nhận ra, “early history” không nên bị dịch là “lịch sử sớm” vì đây là một khái niệm rất cơ bản trong sử học, nó chỉ giai đoạn chuyển giao giữa “tiền sử” (“prehistory” – “giai đoạn quá khứ không được ghi chép thành văn nên hầu như chỉ có thể được nghiên cứu dựa vào tư liệu khảo cổ”) và “lịch sử” (“history” – “giai đoạn quá khứ được ghi chép trong các bộ sử liệu, có thể được nghiên cứu dựa vào cả tư liệu khảo cổ lẫn văn tự”). Các nhà sử học Việt Nam lâu này vẫn dịch “early history”“sơ sử” nhưng không hiểu sao một người trong ngành Sử như bác Nga lại dịch là “lịch sử sớm” ? Không hiểu “lịch sử muộn” của Việt Nam thì như thế nào?

Thứ hai, xem xét cách dịch vế câu điều kiện “if these four had set the foundation…” sang tiếng Việt, dễ dàng nhận ra đây là câu điều kiện loại 2 trong tiếng Anh, mô tả một sự việc phản thực hữu (counterfactual), tức không có thật trong thực tại. Đại ý câu hỏi tu từ này có thể diễn dịch lại như sau: Nếu như bộ tứ (Trường – Phương – Anh – Định) xây được nền móng cho việc nghiên cứu sơ sử của VN thì nền sử học sơ sử VN hiện tại sẽ ra sao? Trên thực tế, “tứ trụ khác” trên đã không, hoặc rất ít, chú tâm tới giai đoạn sơ sử của Việt Nam cho nên những học giả như Lê Minh Khải hay Keith W. Taylor bây giờ mới được đóng vai làm cao bồi tung hoành riêng một miền hoang dã là “Early History of Vietnam” (tức “lịch sử” VN giai đoạn từ thời Hùng Vương đến cuối Bắc thuộc)! Cách dịch của bác Hà Hữu Nga tuy hơi khó hiểu, song có thể chấp nhận được, nếu như không có chữ “nếu như”.

Trong tiếng Việt, “nếu/nếu như/giá như .v.v.” là chỉ tổ của câu điều kiện. Bác Nga hẳn biết điều này. Tuy nhiên, bác Nga hẳn không biết/chưa biết sự khác nhau giữa “nếu như” và “giá như” trong vai trò làm chỉ tố câu điều kiện tiếng Việt. Nôm na ta có thể hiểu thế này: “giá như” ý chỉ một điều không có thực ở hiện tại hoặc quá khứ còn “nếu như” biểu thị ý nghĩa rộng hơn, bao hàm một điều không có thực ở hiện tại, quá khứ lẫn một điều là quy luật hoặc có thể trở thành hiện thực. Nói vắn lại, “nếu như” có thể ứng với tất cả loại câu điều kiện trong tiếng Anh song “giá như” chỉ có thể ứng với câu điều kiện loại 2 hoặc 3 (hoặc hỗn hợp giữa 2,3). Hãy so sánh (1) với (2):

(1) Nếu như anh ấy không đến, cô ấy sẽ rất vui.

(2) Giá như anh ấy không đến, cô ấy sẽ rất vui.

Ta có thể nói:

(3) Nếu như anh ấy không đến, cô ấy sẽ rất vui. Hôm đó, cô ấy rất vui.

Nhưng khó có thể nói:

(4) *Giá như anh ấy không đến, cô ấy sẽ rất vui. Hôm đó, cô ấy rất vui.

Chính vì sự khác biệt này mà người ta vẫn thường diễn đạt một ước mong vô vọng bằng “giá như” : “giá như cô ấy vẫn còn yêu tôi…”.
Tóm lại, không phải bác Nga dịch sai mà đây chỉ là vấn đề “to-pay attention-or-not-to- pay-attention” đến ngôn ngữ mình sử dụng mà thôi. Nếu là một người để tâm đến tiếng Việt hơn, người đó  hẳn sẽ dùng “giá như” trong trường hợp này thay vì “nếu như” bởi  đơn giản, “giá như” sẽ hay hơn.

——–

Côn Minh (Vân Nam), 25/3/2016.

 

 

 

Advertisements