Latest Entries »

 

Ludwig Wittgenstein. Cái tên mà không cứ gì sinh viên triết mà bất kỳ con vượn người đi bằng hai chân đã tiến hóa nào cũng thèm khát thấu hiểu. Đơn giản vì hiểu được ông là một vinh dự lớn lao mà Thượng đế chỉ tưởng thưởng nó cho rất ít những kẻ chấp nhận kiếp tù đày trong nỗi cô đơn vĩnh cửu.

witt
Sinh thời, Wittgenstein viết rất nhiều nhưng xuất bản rất ít: một cuốn sách, một bài báo và một bài điểm sách. Cuốn sách  thôi thì khỏi phải bàn. Còn sau đây, xin giới thiệu với mọi người bài điểm sách, viết năm 1913 trong thời gian Wittgenstein theo học B.Russell ở ĐH Trinity, Cambridge và trước khi tự giam mình ở Nauy hai năm nghiền ngẫm về logic. Đây cũng chính là xuất bản phẩm đầu tay của ông. Năm đó Witt 24 tuổi (kém mình bây giờ 2 tuổi).

Sau đây là nội dung bài điểm sách.

Nguyên tác: Review: P.Coffey, The science of Logic

reviewed by Ludwig Wittgenstein, The Cambridge Review, Vol. 34, No. 853, March 6, 1913.351.

Khoa học Logic: khảo cứu các nguyên lý về tư duy chính xác và phương pháp khoa học. Tác giả TS. P. Coffey, Giáo sư Logic học và Siêu hình học, Đại học Maynooth. NXB Longmans, Green & Co 1912.

———-

Chẳng có ngành học nào mà ở đó có người có thể khinh thường những thành quả của sự khảo cứu nghiêm túc một cách vô trách nhiệm đến vậy như Triết học và Logic học. Chính ở khía cạnh này, chúng ta biết ơn một cuốn sách như cuốn Khoa học Logic (viết tắt Logic) của Ngài Coffey vì nó là một ví dụ điển hình cho rất nhiều công trình của các nhà logic học hiện nay và nó đáng để chúng ta bàn luận cũng chỉ vì lẽ đó. Tác giả của Logic là một kiểu triết gia kinh viện (scholastic philosopher) và ông ta phạm phải tất cả những lỗi lầm của những triết gia kiểu này– dĩ nhiên trong đó đơn cử hay được nhắc đến đó là Aristotle. (Aristotle, cái tên được các nhà logic học kinh viện của chúng ta nhắc đến quá nhiều một cách vô ích, chắc phải đội mồ mà sống dậy nếu như ông ta biết được sự thật rằng rất nhiều nhà logic học ngày nay biết nhiều hơn những gì ông ta biết về logic 2000 năm trước). Tác giả của Logic đã không hề mảy may để ý đến những tác phẩm vĩ đại của các nhà logic toán học hiện đại. Mà chính những công trình này đã giúp chúng ta tiến xa trong logic học như thể những bước tiến đã giúp Thiên văn học (Astronomy) thoát khỏi cái bóng của Chiêm tinh học (Astrology) hay Hóa học (Chemistry) thoát khỏi Thuật giả kim (Alchemy).

Ngài Coffey, cũng giống như bao nhà logic học khác, đã thu được rất nhiều lợi lộc từ cái cách thức không rõ ràng mà ông dùng để thể hiện những quan điểm cá nhân; vì rằng nếu như bạn không thể nói được điều người ta nói là Đúng hay Sai thì dĩ nhiên thật khó để bạn có thể tranh luận được với người ta. Tuy nhiên, xuyên suốt bức màn ngôn ngữ mờ ảo của mình, ông ta vẫn để lộ ra nhiều sai lầm chết người đủ để chúng ta nhận thấy tương đối rõ ràng. Sau đây tôi xin được soạn ra một danh sách những sai lầm tai hại nhất trong số chúng và đề nghị các bạn sinh viên học Logic hãy nghiền ngẫm và phát hiện những sai sót này cùng những hệ quả của chúng trong cả những cuốn sách khác nói về Logic dạng này. (Số được viết trong ngoặc vuông chỉ số trang trong cuốn sách của Ngài Coffey – tập I – nơi mà mỗi sai sót dưới đây xuất hiện trước nhất; còn những ví dụ minh họa là của tôi).

I. [36] Tác giả tin rằng tất cả các mệnh đề đều có dạng thức Chủ – Vị.

II. [31] Ông ta tin rằng thực tại (reality) bị thay đổi khi trở thành một vật thể (object) của tư duy.

III. [6] Ông ta lẫn lộn hệ từ “is” (“là”) với từ “is” có chức năng biểu đạt sự đồng nhất (identity). (Từ “is” (“là”) rõ ràng có ý nghĩa khác nhau trong những mệnh đề khác nhau – ví dụ “Twice two is four” và “Socrates is mortal”.)

IV. [46] Ông ta lẫn lộn vật (things) với những tập hợp mà vật thuộc về. (“A man” (“một người”) thì rõ ràng khác với “mankind” (“loài người”).)

V. [48] Ông ta lẫn lộn tập hợp (classes) với phức hợp (complexes). (“Mankind” (“loài người”) là một tập hợp chứa các đơn vị là “men” (“người”); nhưng “library” (“thư viện”) thì không phải là một tập hợp các đơn vị là “books” (“sách”) vì “books” (“sách”) chỉ trở thành một phần của “library” (“thư viện”) khi chúng được sắp xếp với nhau theo một trật tự không gian nào đó— trong khi tập hợp thì độc lập với các quan hệ giữa các thành viên.)

VI. [47] Ông ta nhầm lẫn phức hợp (complexes) với tổng hợp (sums). (Hai cộng hai bằng bốn nhưng bốn không phải là một phức hợp của hai và chính nó.)

Danh sách này còn có thể kéo dài thêm nhiều nữa.

Tuy nhiên, điều tồi tệ nhất của loại sách dạng này đó là chúng tạo nên định kiến rằng những người khôn ngoan thì sẽ chẳng bao giờ tin vào Logic học.

Ludwig Wittgenstein.

Link bản gốc.

Advertisements

Phần cuối: Lý thuyết ngữ pháp tạo sinh

Tái sử dụng những thuật ngữ truyền thống trong một ngữ cảnh mới, lý thuyết mô tả một I-language L đôi lúc được gọi là “ngữ pháp” (grammar)[1] của nó, còn lý thuyết mô tả trạng thái ban đầu S-0 của cơ quan ngôn ngữ FL được gọi là “ngữ pháp phổ quát” (universal grammar – UG). Các nghiên cứu này thường được gọi chung là “ngữ pháp tạo sinh” (generative grammar) vì đó là ngữ pháp quan tâm đến cách làm thế nào một L có thể tạo sinh ra một dãy vô hạn các biểu thức. Nhân tố kinh nghiệm (experience) liên quan đến quá trình chuyển hóa từ S-0 sang L được gọi là “ngữ liệu nguyên cấp” (primary linguistic data – PLD). Một ngữ pháp G của một I-language L được coi là thỏa mãn điều kiện về “thỏa đáng mô tả” (descriptive adequacy) khi và chỉ khi nó là một lý thuyết đúng của L. UG được coi là thỏa mãn điều kiện về “thỏa đáng giải thích” (explanatory adequacy) khi và chỉ khi nó là một lý thuyết đúng của trạng thái ban đầu S-0. Hệ thuật ngữ này được xây dựng nhằm mục đích nói lên một sự thật đó là UG có khả năng giải thích sâu hơn các hiện tượng ngôn ngữ so với G. G cung cấp kiến giải cho các hiện tượng nào đó qua việc miêu tả các thao tác tạo sinh ra chúng; UG thì chỉ ra những thao tác tạo sinh này, cũng như những hiện tượng đi kèm, có thể phái sinh từ PLD bằng cách nào. Ta có thể hình dung S-0 như là một phép ánh xạ (mapping) từ PLD tới L, và UG là lý thuyết mô tả phép ánh xạ trên[2]. Bức tranh lý tưởng này đôi khi được coi là một phần của cái gọi là “vấn đề logic của việc thụ đắc ngôn ngữ” (the logical problem of language acquisition). Còn việc nghiên cứu dụng ngôn (study of language use) sẽ khảo sát cách sử dụng các tài nguyên của I-language để biểu đạt tư duy, mô tả thế giới, trao đổi thông tin, thiết lập các mối quan hệ xã hội .v.v. như thế nào. Về nguyên tắc, loại nghiên cứu này có thể làm sáng tỏ “khía cạnh sáng tạo của việc sử dụng ngôn ngữ”, tuy nhiên, như đã nhấn mạnh ở trên, những chủ đề này dường như vẫn ẩn sau bức màn bí mật giống như đa số bản chất của các hành vi khác.

linguistics11

Bước chuyển sinh-ngôn ngữ học của ngôn ngữ học thập niên 1950 đã làm sống dậy nhiều mối quan tâm truyền thống, tất nhiên với những cách tiếp cận mới và sự trợ giúp của những công cụ học thuật mới, cụ thể như: việc hiểu rõ bản chất các quá trình đệ qui (recursive processes),  các thao tác tạo sinh (generative procedures) tạo ra vô hạn các sự vật (trong trường hợp này là các biểu thức của L) bằng hữu hạn các phương tiện (các cơ chế của L – mechanisms of L). Ngay từ khi chương trình nghiên cứu này mới được khởi động, nó đã khám phá ra rằng, bất kể các bộ ngữ pháp truyền thống hay từ điển có hoàn bị hay tỉ mỉ đến nhường nào đi nữa thì chúng cũng vẫn không đả động tới những câu hỏi hệ trọng nhất về các biểu thức ngôn ngữ. Chúng đơn giản chỉ cung cấp những “chỉ dẫn” để một người nào đó đã được trang bị FL ở một số trạng thái nhất định nào đó sử dụng, mà để ngỏ câu hỏi về bản chất của những hệ thống này. Và rất mau chóng, theo đường hướng mới, một loạt những hiện tượng mới đã được khám phá, song song với những vấn đề mới đang cần được giải thích một cách toàn diện.

Và một vấn đề cũng rất mau chóng được nhận diện đó là căng thẳng rất lớn tồn tại giữa hai mục tiêu tìm kiếm thỏa đáng mô tả và thỏa đáng giải thích. Mục tiêu đầu dường như dẫn đến những hệ thống quy tắc rất rắc rối, thay đổi theo từng ngôn ngữ và từng cấu trúc của mỗi một ngôn ngữ. Tuy nhiên, điều này không thể đúng. Vì rằng, mỗi một ngôn ngữ đều là sản phẩm phái sinh từ một nguồn gốc FL chung tương tác với PLD riêng chứa ít thông tin về các nguyên tắc và các cấu trúc.

Nan đề (dilemma) trên là động lực để các nhà nghiên cứu khám phá ra những đặc tính chung của các hệ thống nguyên tắc được chiết ra từ những ngữ pháp riêng biệt (particular grammars) và đem gán cho UG sao cho phần dư của chúng đủ đơn giản để có thể thụ đắc được trên cơ sở của PLD. Khoảng 25 năm trước, những nỗ lực này cùng tựu về cái gọi là cách tiếp cận “các nguyên lý và tham số” (principles and parameters – P&P). Đây là một bước tiến rất lớn so với cách nhìn nhận truyền thống về ngôn ngữ. Cách tiếp cận P&P không những thoát li khỏi những quy tắc và cấu trúc cấu thành nên khung (framework) ngữ pháp truyền thống mà nó còn quan hệ rất chặt chẽ với ngữ pháp tạo sinh giai đoạn khởi đầu. Theo đó, mệnh đề quan hệ của tiếng Hungary và ngữ động từ của tiếng Nhật có mối tương quan, nói theo cách nào đó, giống như “động vật có vú trên cạn” (terrestrial mammal) với “sinh vật biết bay” (creature that flies). Nguyên tắc để cấu tạo chúng được phân tích (decomposed) thành các nguyên lý của UG áp dụng cho một diện rộng các cấu trúc truyền thống. Một ngôn ngữ riêng biệt L được xác định bằng cách xác lập các giá trị nhất định theo  “các tham số” của S-0: Trung tâm đầu (N-Adj) hay trung tâm cuối (Adj-N)? Phạm trù nào cho phép “trống” – null (ND: hiểu đơn giản là có hình thức cú pháp nhưng không được phát âm)? .v.v. Các tham số nhìn chung đều phải đủ đơn giản để các giá trị có thể được xác lập trên cơ sở các dữ liệu hạn chế và dễ thụ đắc. Thụ đắc ngôn ngữ chính là quá trình xác lập những giá trị tham số này. Các tham số có thể được hiểu như là những “nguyên tử” của ngôn ngữ – nếu dùng ẩn dụ của Mark Baker[3]. Mỗi một ngôn ngữ tự nhiên là một sự sắp đặt những nguyên tử này bằng cách gán giá trị vào các tham số. Các nguyên lý cố định thì luôn có sẵn cho việc cấu tạo các biểu thức dù cho các nguyên tử được sắp đặt trong một I-language riêng biệt như thế nào đi nữa. Như vậy, mục đích chính của chương trình nghiên cứu này là nhằm khám phá ra một thứ tương tự như “bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học”, thứ sẽ giải thích tại sao chỉ một số lượng rất nhỏ các hệ thống ngôn ngữ khả hữu có thể tồn tại và được thụ đắc theo cách thông thường.

Chú ý rằng cách tiếp cận P&P chỉ là một chương trình chứ không phải một lý thuyết cụ thể. Nó là một khung để xây dựng nên các lý thuyết theo những cách thức khác nhau. Nó đã chứng tỏ là một chương trình rất có năng suất, cho ra rất nhiều nghiên cứu trên một diện loại hình học rất rộng, và cũng sâu hơn bất kể giai đoạn nào trước đây. Một kiểu loại các hiện tượng phong phú chưa từng biết đến đã được khai mở, hé lộ nhiều tri kiến mới và cũng đặt ra không ít thử thách với những vấn đề mới. Chương trình này cũng gợi mở nhiều vấn đề mới đáng để nghiên cứu trong địa hạt thụ đắc ngôn ngữ và các địa hạt khác có liên quan. Có lẽ không thể có một giai đoạn nào khác trong lịch sử có thể cho chúng ta nhiều hiểu biết đến thế về ngôn ngữ loài người. Chắc chắn những địa hạt khác có liên quan đến ngôn ngữ cũng như vậy.

Cách tiếp cận P&P, như đã trình bày, hứa hẹn sẽ giải quyết được căng thẳng giữa hai mục tiêu tìm kiếm thỏa đáng mô tả và thỏa đáng giải thích; ít nhất là trên nguyên tắc và đến một chừng mực nào đó trên thực tế. Ngay từ ban đầu, điều này là khả thi, ít nhất trong việc nhìn thấy viễn cảnh một lý thuyết chân chính về ngôn ngữ sẽ dung hòa cả điều kiện về thỏa đáng mô tả lẫn điều kiện về thỏa đáng giải thích. Viễn cảnh này cho phép chúng ta ấp ủ thêm những câu hỏi sâu xa hơn trong cách tiếp cận sinh-ngôn ngữ học, những vấn đề đã được ngầm đặt ra khi nói về ngữ pháp tạo sinh ở trên: làm cách nào để vượt qua ranh giới thỏa đáng giải thích?

Từ lâu người ta đã biết rằng chọn lọc tự nhiên (natural selection) xảy ra theo một “kênh” khả năng được thiết lập bởi các quy luật tự nhiên, và rằng bản chất của các tổ chức sinh học không thể được mô tả chính xác nếu ta chưa nắm bắt được các quy luật của tự nhiên tham gia vào quá trình xác định những cấu trúc, hình thái và đặc tính của chúng. Những nghiên cứu kinh điển về vấn đề này thuộc về D’Arcy Thompson và Alan Turing, những người tin rằng chúng rốt cuộc sẽ là những chủ đề trung tâm của lý thuyết tiến hóa và lý thuyết phát triển các tổ chức sinh học (morphogenesis). Những câu hỏi tương tự cũng xuất hiện trong địa hạt nghiên cứu các hệ thống tri nhận, cụ thể là FL. Khi nào chúng ta có thể trả lời những câu hỏi này, khi đó chúng sẽ vượt qua ranh giới của thỏa đáng giải thích.

9780262531283

Ngày nay, những nghiên cứu làm sáng tỏ những chủ đề trên thuộc về cái gọi là “chương trình tối thiểu luận” (the minimalist program). Việc nghiên cứu UG nhằm xác định đặc tính nào là của ngôn ngữ  và những nguyên lí và tham số của nó là gì, nếu như cách tiếp cận P&P đi đúng hướng. Chương trình tối thiểu luận đặt câu hỏi tại sao ngôn ngữ lại được cấu trúc dựa trên những đặc tính này mà không phải những đặc tính khác. Cụ thể hơn, ta sẽ tìm cách xác định đến mức độ nào thì những đặc tính của ngôn ngữ có thể được phái sinh từ những đặc tính chung của các tổ chức sinh học phức tạp và từ những điều kiện mà FL bắt buộc thỏa mãn để có thể sử dụng được: “những điều kiện giao diện” (interface conditions) được thiết lập bởi các hệ thống vận động cảm giác – “sensorimotor” (SM) và các hệ thống tư duy và hành vi – thường gọi là các hệ thống khái niệm-nội hàm – “conceptual-intensional” (CI). Ta có thể hiểu một I-language như là một hệ thống kết nối SM với CI bằng việc tạo sinh các biểu thức “thích hợp” (legible) với từng hệ thống đó. Những hệ thống này (SM và CI) tồn tại độc lập với ngôn ngữ. Vì những trạng thái của FL là những hệ thống tính toán (computational systems), đặc tính chung của chúng khiến chúng ta quan tâm đặc biệt là những đặc tính liên quan đến việc tính toán hiệu quả. Một luận đề rất quan trọng của tạo sinh luận đó là FL là một lựa chọn tối ưu cho vấn đề kết nối SM với CI, theo nghĩa tự nhiên của sự tính toán tối ưu (optimal computation).

Giống như cách tiếp cận P&P, chương trình Tối thiểu luận cũng chỉ là một khung nghiên cứu để thiết lập các câu hỏi, từ đó để chúng ta đi kiếm tìm những câu trả lời. Trong bối cảnh đó, những câu hỏi vẫn có khả năng bị thiết lập sai hoặc cần phải được xem xét lại. Chương trình này, tương tự những nỗ lực ban đầu, nhằm đi tìm lý thuyết tốt nhất mô tả FL và các trạng thái của nó. Tuy nhiên, những câu hỏi mà nó đặt ra được sắp xếp theo một trật tự khác, khó và cũng hấp dẫn hơn: liệu có khả năng FL và các trạng thái của nó là tối ưu, theo một nghĩa thú vị nào đó? Nếu thật sự như vậy, chắc chắn nó sẽ là một khám phá đầy gợi mở. Trong mấy năm vừa rồi, đã có nhiều nghiên cứu về những chủ đề này từ nhiều góc độ khác nhau và hứa hẹn đạt được nhiều kết quả cũng như, tôi nghĩ, nhiều vấn đề và nghịch lý mới.

Cho tới khi chương trình này thành công, nó sẽ cung cấp nhiều bằng chứng hơn nữa để chứng minh luận đề của Galileo – nguồn cảm hứng của khoa học hiện đại: “tự nhiên là hoàn hảo” (nature is perfect). Chứng minh luận đề đó là công việc của các nhà khoa học, cho dù là bằng nghiên cứu các quy luật chuyển động, hay cấu trúc bông tuyết, hay cấu tạo và sự sinh trưởng của một bông hoa,  hay là hệ thống phức tạp nhất mà chúng ta từng biết đến – não người.

Các nghiên cứu ngôn ngữ 50 năm qua đã gặt hái rất nhiều kết quả và còn hứa hẹn nhiều khám phá thú vị khác ở phía trước, không chỉ trong địa hạt ngôn ngữ học hẹp đã phác thảo ở trên mà còn theo những đường hướng mới với hy vọng thậm chí có một ngày ngôn ngữ học sẽ hợp nhất với thần kinh học – viễn cảnh trêu ngươi đó có lẽ đang ở cuối chân trời.

Noam Chomsky

Institute Professor at MIT


Chú thích:

[1] Xem thêm Trịnh Hữu Tuệ (2003), Chomsky, ngôn ngữ, Quốc Việt…., Talawas. http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=156&rb=06

[2] Hiểu một cách đơn giản, với một hàm số y = f(x) thì ở đây, f là S-0, x là PLD và y là L.

[3] Xem thêm Mark Baker (2001), The atoms of language (Nguyên tử ngôn ngữ), Basic Books.

Phần II: chức năng của ngôn ngữ và cách tiếp cận sinh-ngôn ngữ học

Dù những quan sát đã nhắc ở phần trước không chỉ dựa trực tiếp vào việc nghiên cứu ngôn ngữ tự nhiên, thì người ta vẫn cho rằng FL trên một số khía cạnh hoàn toàn tách biệt về sinh học theo nghĩa nó là một đặc tính giống loài hơn là một tài sản chung của loài người một cách đơn thuần. Đơn cử một khía cạnh rõ rệt nhất, một I-language là một hệ thống sản sinh sự vô hạn trừu tượng, một quá trình tạo sinh (generative process) cho ra vô hạn các biểu thức xét về quy mô (range) cấu trúc, mỗi một biểu thức cấu trúc đi liền với một thực thể âm thanh và ý nghĩa. Những hệ thống sản sinh sự vô hạn trừu tượng là hiếm có trong thế giới sinh học và không tìm thấy ở bất cứ một hệ thống giao tiếp của một loài nào khác ngoài con người. Khi chúng ta nhìn sâu hơn những đặc tính cơ bản nhất của ngôn ngữ tự nhiên, tính chất độc nhất vô nhị của nó càng không cần phải bàn cãi. Trên một số khía cạnh cơ bản, ngôn ngữ tự nhiên nằm ngoài các tiêu chí loại hình tiêu chuẩn thuộc về một hệ thống giao tiếp của động vật. Vì vậy, rất thiếu cơ sở để ức đoán rằng cơ quan ngôn ngữ loài người tiến hóa từ một hệ thống giao tiếp của động vật hoặc cho rằng “chức năng chủ yếu” (“primary function”) của ngôn ngữ là giao tiếp (một khái niệm cho đến nay vẫn không rõ ràng). Ngôn ngữ dĩ nhiên có thể được sử dụng để giao tiếp, như bất kì việc gì khác mà con người có thể thực hiện, tuy nhiên, thay đổi quan niệm truyền thống cho rằng chức năng ngôn ngữ chủ yếu là công cụ để thể hiện tư duy là không hợp lí. Vì rằng, nói theo quan điểm thống kê, rõ ràng người ta vẫn sử dụng ngôn ngữ để nghĩ nhiều hơn để nói. Bạn có thể tự mình dễ dàng kiểm nghiệm điều đó.

Theo quan điểm nội tại, việc nghiên cứu ngôn ngữ là một phần của sinh học (biology), bên cạnh việc nghiên cứu các hệ thống sinh học khác như hệ thống thị giác (của sinh vật), “cơ quan nhảy múa” và xác định phương hướng của ong, hệ thống tuần hoàn và tiêu hóa .v.v. của các tổ chức sinh học (organisms). Các hệ thống này có thể được nghiên cứu trên những cấp độ khác nhau. Riêng đối với các hệ thống tri nhận,  các cấp độ này thường được gọi một cách không chính thức là “cấp độ tâm lý” (“psychological level”) và “cấp độ sinh lý” (“physiological level”). Một nhà nghiên cứu về ong có thể nỗ lực để xác định và mô tả đặc điểm quá trình tính toán được thực hiện bởi hệ thống thần kinh của ong khi nó phát và nhận thông tin về một nguồn mật ở xa, hoặc khi nó đang tìm cách quay về tổ: đây chính là cấp độ phân tích “tâm lý”. Hoặc giả anh ta cũng có thể cố gắng để tìm hiểu cơ sở thần kinh nào cho phép những khả năng tính toán này của ong, một chủ đề mà chúng ta còn hiểu biết rất ít ngay với những tổ chức sinh học đơn giản nhất: đây chính là cấp độ phân tích “sinh lý”. Hẳn nhiên đây là hai công việc này liên quan tới nhau và hỗ trợ nhau. Những kết quả có được từ “cấp độ sinh học” thường dẫn dắt các nhà khoa học tới các nghiên cứu về cơ chế thần kinh và ngược lại, những phát kiến trong lĩnh vực cơ chế thần kinh có thể giúp các nghiên cứu về tâm lý hé lộ những đặc tính về tổ chức trên nhiều khía cạnh khác nhau.

7f05ba276384097a4676d5c5c2ccaa4b.1500

Theo một cách thức tương tự, việc nghiên cứu các phản ứng hóa học, đặc tính hóa học và những thực thể có cấu trúc liên quan cũng hỗ trợ rất nhiều cho vật lý cơ bản (fundamental physics), chúng đã thúc đẩy sự hợp nhất cuối cùng của hai ngành này. 75 năm trước, Bertrand Russell, một người rất am tường khoa học, từng phát biểu: “cho đến nay, quy luật hóa học không thể giản lược thành quy luật vật lý được”. Ý kiến đó đúng, nhưng đã lỗi thời. Đúng là trên nguyên tắc, những quy luật hóa học không thể được giản lược thành quy luật vật lý, theo đúng cách hiểu của vật lý thời bấy giờ. Tuy nhiên, sự hợp nhất hóa học với vật lý đã đến sau đó chừng vài năm sau khi cuộc cách mạng  về lý thuyết lượng tử (quantum) bắt đầu. Đó chẳng phải là một chương đặc biệt trong lịch sử khoa học hay sao? Vì vậy, chúng ta cũng hoàn toàn không thể đoán định trước được thành quả tương lai của những nỗ lực hiện tại nhằm hợp nhất hai cấp độ “tâm lý” và “sinh lý” trong việc nghiên cứu các khả năng tri nhận của các tổ chức sinh học, trong đó có ngôn ngữ.

Việc hợp nhất vật lý và hóa học để lại cho chúng ta nhiều bài học quan trọng. Hãy nhớ rằng hai ngành khoa học mũi nhọn này quan tâm đến những cấu trúc đơn giản và sơ cấp nhất của thế giới. Chúng không nghiên cứu những thực thể có cấu trúc đặc biệt phức tạp. Trước khi hợp nhất, việc một nhà khoa học hàng đầu cho rằng các nguyên lý và thực thể hóa học giả định (postulated entities) nào đó chỉ là những công cụ tính toán, chúng có ích cho việc tiên đoán các hiện tượng nhưng lại thiếu một đặc tính bí ẩn đó là “hiện thực vật lý” (“physical reality”). 100 năm trước, các nhà khoa học hàng đầu đều coi nguyên tử và phân tử theo những cách giống nhau. Người ta tin vào lý thuyết phân tử gas chỉ vì họ quen với trò bi-da, Poincarre đã từng mỉa mai như vậy. Nhà vật lý Ludwig Boltzmann chết trong nỗi tuyệt vọng một thế kỉ trước vì ông cảm thấy bất lực trong việc thuyết phục các đồng nghiệp của mình về hiện thực vật lý của học thuyết nguyên tử mà ông là một trong số những người sáng lập. Ngày nay, ai cũng hiểu đó đều là hiểu lầm chung của thời đại. “Nguyên tử” của Boltzmann hay “phân tử” của Kekule hay cho dù là những thực thể giả định nào khác cũng đều là thực (real) theo đúng một nghĩa duy nhất mà chúng ta biết: chúng có vị trí quyết định để giải thích tốt nhất một hiện tượng nào đó trong khả năng mà bộ não chúng ta cho phép.

Những bài học trên cũng áp dụng cho cả việc nghiên cứu các cấu trúc và khả năng tri nhận, bao gồm: các lý thuyết về tìm phương hướng ở các loài côn trùng,  sự tri giác những vật thể cứng trong chuyển động, hoặc I-language .v.v. Các nhà nghiên cứu sẽ đi tìm kiếm những kiến giải tốt nhất, hướng tới việc hợp nhất các cấp độ phân tích theo những hướng và thuật ngữ khác nhau mà không cần phải hình dung trước sự hợp nhất đó sẽ như thế nào, hoặc thậm chí đặt câu hỏi về tính khả thi của nó, vì xét cho cùng, trí tuệ con người cũng chỉ là một hệ thống sinh học chứ không phải là một công cụ toàn năng.

Như vậy, với cách tiếp cận “sinh-ngôn ngữ học” (“biolinguistic”), vấn đề cốt lõi của ngôn ngữ học bây giờ là việc nghiên cứu từng I-languages cụ thể, bao gồm trạng thái ban đầu cho đến những trạng thái phái sinh tiếp theo. Một luận đề có thể gây tranh cãi đó là việc nghiên cứu này cần phải được ưu tiên theo nghĩa nó cần phải được tiền giả định, cho dù có thể không hiển ngôn, trong tất cả các cách tiếp cận ngôn ngữ khác như: ngôn ngữ học xã hội, ngôn ngữ học so sánh – đối chiếu, phong cách học .v.v. Điều này là có lý, và trên thực tế là không thể chối cãi nếu như ta phân tích kĩ một nghiên cứu cụ thể nào đó. Tôi nghĩ rằng luận đề này luôn đúng bất kể thế nào đi nữa. Hoặc giả, không ai có thể phủ nhận được một luận đề nhẹ nhàng hơn nó, đó là: việc nghiên cứu khả năng ngôn ngữ của từng người nên có một vị trí cơ bản trong bất kì một nghiên cứu nghiêm túc nào về các mặt của ngôn ngữ, về việc sử dụng hay chức năng của nó. Cũng giống như việc ngành sinh học loài người (human biology) là thành tố cốt lõi trong các nghiên cứu nhân học, lịch sử, nghệ thuật hay bất cứ khía cạnh nào khác của đời sống con người. Và cũng giống như ngành sinh học loài người, cách tiếp cận “sinh-ngôn ngữ học” là một đường hướng thuộc về khoa học xã hội và nhân văn.

(hết phần hai)

Lời người dịch:

Tổng thống Obama từng nói đại ý: con người ta hành động vì nhiều mục đích khác nhau; có người vì tiền, người vì quyền lực, người vì những khích lệ cụ thể nhưng cũng có người được truyền cảm hứng từ những câu chuyện […]. Những câu chuyện đứng đằng sau sự thành công của nước Mĩ, theo Obama, là những câu chuyện tuyệt vời, chẳng hạn như câu chuyện về độc lập, câu chuyện “tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng[1].

Tôi hoàn toàn tán đồng quan điểm của Tổng thống Obama, tuy muốn nói thêm rằng: nếu như có thể phân chia loài người ra thành bốn nhóm theo bốn động cơ hành động trên, tôi tin rằng đa số các nhà khoa học sẽ thuộc vào nhóm cuối cùng – những người sống vì những câu chuyện. Câu chuyện mà tôi muốn chia sẻ với các bạn sau đây là một (trong nhiều) câu chuyện của ngôn ngữ học, một ngành khoa học xã hội và nhân văn vẫn còn rất non trẻ nếu so sánh với các ngành khoa học gạo cội khác như: toán học, vật lí học, sinh học hay sử học, triết học, kinh tế học .v.v. Tuy nhiên, chính nhờ vào câu chuyện này, câu chuyện được kể bởi một người kể chuyện vĩ đại giữa thời đại chúng ta đang sống (ông cũng là một người Mĩ) mà trong gần 60 năm lại đây, ngôn ngữ học đã có những thành tựu to lớn đóng góp chung cho tri thức nhân loại hơn bất kể một giai đoạn nào khác trong lịch sử hơn 2500 năm của mình (tính từ khi các triết gia Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại bàn về ngôn ngữ). Người kể chuyện vĩ đại tôi muốn nhắc đến ở đây, không ai khác, chính là Noam Chomsky, giáo sư ngôn ngữ học thuộc Học viện Công nghệ Massachusetts (Mĩ), một trong mười học giả ngành nhân văn, người duy nhất còn sống, được trích dẫn nhiều nhất (đứng trên Hegel và Cicero và chỉ đứng sau Marx, Lenin, Shakespeare, Kinh Thánh, Aristotle, Plato và Freud)[2]. Ông là người đã khai sinh ra lý thuyết ngữ pháp tạo sinh (Generative Grammar), học thuyết mô tả và giải thích kiến thức ngôn ngữ (knowledge of language), loại kiến thức mà không một loài sinh vật nào khác trên trái đất sở hữu, ngoại trừ loài người.

Câu chuyện về ngữ pháp tạo sinh được Noam Chomsky bắt đầu vào năm 1957 với công trình “Các cấu trúc cú pháp”. Cho đến nay, nó đã được phát triển, điều chỉnh và bổ sung rất nhiều nhờ công sức của chính Chomsky và các môn đệ. Nhờ đó, bức tranh về bản chất cũng như cấu trúc ngôn ngữ đã ngày một trở nên sáng rõ hơn bao giờ hết. Bài viết mà tôi xin giới thiệu sau đây được chính Chomsky chấp bút như là một đúc kết cho một chặng đường gần 50 năm (tính tới thời điểm bài viết ra đời) mà giới Tạo sinh luận đã đi qua. Không ít những giả thuyết được đặt ra từ ban đầu đã bị loại bỏ, nhưng những ý tưởng quan trọng nhất của Chomsky ngay từ “Các cấu trúc cú pháp” thì vẫn được bảo lưu và liên tục được bổ sung và phát triển trên cả chiều rộng lẫn chiều sâu, lý thuyết lẫn cứ liệu ngôn ngữ.

Một chân trời mới trong ngôn ngữ học thực sự đã mở ra phía trước và đang đón chờ những kẻ đam mê nó viết tiếp câu chuyện mà Chomsky đã bắt đầu…

Ngôn Thành, 4/6/2016

Chú thích:

[1] Xem cuộc đối thoại giữa Tổng thống Obama với 1000 bạn trẻ ở TP.Hồ Chí Minh, Việt Nam tại đường link sau (câu hỏi/câu trả lời số 8).

[2] Xem số liệu cụ thể tại đây: http://news.mit.edu/1992/citation-0415


Phần I: bước chuyển của ngôn ngữ học thế kỉ XX và bản chất của ngôn ngữ[1]

Đã một nửa thế kỉ trôi qua kể từ khi việc nghiên cứu ngôn ngữ được thực hiện theo một đường hướng mới song song với việc khơi lại những mối quan tâm cũ tưởng như đã bị lãng quên từ lâu. Tâm điểm của nó là việc chuyển trọng tâm nghiên cứu từ hành vi ngôn ngữ và các sản phẩm hành vi ngôn ngữ (như văn bản, khối liệu .v.v.) sang các cơ chế nội tại (internal mechanisms) tham gia vào các hành vi ngôn ngữ. Sự chuyển biến trong ngôn ngữ học này là một phần của cuộc cải cách từ tâm lý học hành vi sang cái gọi là “khoa học tri nhận” (“cognitive science”) và trên thực tế, nó đã đóng một vai trò hết sức quan trọng trong tiến trình phát triển chung của “khoa học tri nhận”.

chomsky1

Với việc lựa chọn cách tiếp cận khác với cách tiếp cận của chủ nghĩa cấu trúc và hành vi luận vốn khi đó đang rất thịnh hành, đối tượng nghiên cứu của nó giờ đây là một thứ tài sản cá nhân, tài sản của một con người cụ thể ví dụ như cháu gái của tôi chẳng hạn. Câu hỏi đặt ra là, cái tài sản đặc biệt mà mỗi con người đều sở hữu cho phép khả năng kỳ diệu nhưng có thực một cách hiển nhiên đó của con người là gì? Trong thế giới âm thanh, một thế giới “rì rầm rầm rì hỗn loạn” (“buzzing, booming confusion” – chữ của William James), một người có thể ngay lập tức nhận diện ra đâu là âm thanh của ngôn ngữ trong thế giới đó, hơn thế, họ còn có thể thực hiện những thao tác phân tích, một cách vô thức, để cho phép kết luận một hệ thống ngôn ngữ cụ thể nào đó, khi thì là một biến thể của cái bình thường ta vẫn gọi là “tiếng Anh”, khi thì là một biến thể của “tiếng Tây Ban Nha”. Nó hoàn toàn có thể chỉ là một ngôn ngữ của người Trung Quốc, hay một phương ngôn của Australia, hay bất kì một ngôn ngữ tự nhiên nào khác. Và tại sao trong cùng một môi trường như vậy, những con mèo của chúng ta (hay con hắc tinh tinh (chimpanzee) .v.v.) lại không thể thực hiện được ngay từ bước nhận diện âm thanh ngôn ngữ đầu tiên, cũng giống như việc chúng ta không thể nhận diện âm thanh mà một con ong tiếp nhận trong điệu múa vo ve của nó thông tin về khoảng cách cũng như phương hướng của một nguồn mật ong.

Tất cả các tổ chức sinh học (organisms) đều có những tiểu hệ thống (subsystems) làm nhiệm vụ dẫn dắt chúng tương tác với môi trường theo những cách thức riêng. Một số tiểu hệ thống như vậy thường được gọi là cơ quan “tinh thần” (“mental”) hay “tri nhận” (“cognitive”) mà ranh giới của chúng không nhất thiết phải được vạch ra một cách chính xác, giống như việc ta không cần xác định chính xác ranh giới giữa hóa học với sinh học. Sự phát triển của các hệ thống tri nhận, giống như các hệ thống sinh học khác, bị ảnh hưởng bởi môi trường, nhưng nhìn chung nó chủ yếu vẫn được quy định bởi gen. Chẳng hạn, những thay đổi về dinh dưỡng có thể có tác động sâu sắc tới sự phát triển của chúng nhưng chắc chắn sẽ không thể biến một phôi thai người thành một con ong hay một con chuột, điều này cũng đúng với quá trình phát triển tri nhận. Người ta đã chứng minh thuyết phục rằng trong các hệ thống tri nhận của người, có một hệ thống gọi là “cơ quan ngôn ngữ” (“faculty of language” – FL), một tiểu hệ thống (chủ yếu) nằm trong não bộ. Cũng có những bằng chứng thuyết phục khác từ các nhà bệnh lý học cho thấy, FL gần như là đồng bộ cho tất cả mọi người và là một tài sản duy nhất loài người sở hữu. “Trạng thái ban đầu” (“initial states”) của FL được quy định từ nguồn gen chung của loài người. Dần dần nhờ tiếp xúc với môi trường bên ngoài, FL trải qua các trạng thái tiếp theo và thường đạt tới sự ổn định tương đối vào tuổi dậy thì, sau thời điểm này những sự thay đổi (nếu có) đều thuộc về ngoại biên, tức chủ yếu là sự gia tăng về mặt từ vựng.

chomsky2

Với những gì chúng ta biết được cho tới nay, mỗi khía cạnh của ngôn ngữ – âm thanh, cấu trúc, ý nghĩa các từ và các biểu thức phức tạp hơn từ – đều bị giới hạn ngặt nghèo bởi các đặc tính của trạng thái ban đầu trên. Những giới hạn đó làm nền tảng và lý giải cho sự phong phú và biến hóa phi thường của các hệ thống ngôn ngữ phái sinh. Sự thực hiển nhiên là quy mô và giới hạn chắc chắn có liên hệ mật thiết với nhau. Nguồn gen sinh học cho phép một bào thai trở thành chuột, cho dù có ít “thông tin” về môi trường bên ngoài nhất, sẽ ngăn chặn bào thai đó trở thành một con ruồi hay một con khỉ. Điều này cũng phải đúng đối với các cơ quan tinh thần cao cấp hơn của loài người, với giả thiết con người là một giống loài sinh học chứ không phải là thần tiên trên trời.

Với những trạng thái kế tiếp của FL, bao gồm “trạng thái ổn định” (“stable states”), chúng ta có thể coi chúng là “những ngôn ngữ”: hoặc nói theo thuật ngữ kĩ thuật hơn là “những ngôn ngữ nội hóa” (“internalized languages” – I-languages). Sở hữu một I-language tức là được trang bị một công cụ để thực hiện cái gọi là “sử dụng sáng tạo ngôn ngữ” (“creative use of language”), khía cạnh từng được Descartes và các môn đệ coi như là chỉ báo chính cho việc sở hữu tâm trí. Một người nào đó có thể sản sinh ra những biểu thức ngôn ngữ hoàn toàn mới mà không giới hạn về số từ, thích hợp với một tình huống hoặc hoàn cảnh bất kì mà không phải là chủ đích của anh ta, và kích hoạt sự suy nghĩ của người khác, những người cũng có khả năng tương tự như anh ta. Bản chất của những khả năng này vẫn còn là một dấu hỏi lớn buộc chúng ta phải suy ngẫm giống như những học giả đi theo Descartes. Tuy nhiên, nhờ sự chuyển hướng sang “ngôn ngữ học nội tại” (“internal linguistics”) mà rất nhiều tri kiến mới mẻ về các cấu trúc cũng như hoạt động tri nhận tham gia vào những khả năng đặc biệt trên đã được hé lộ cho chúng ta.

          (hết phần một)

Chú thích:

[1] Nguyên bản bài viết của Chomsky không chia phần. Việc chia phần và đặt tên cho từng phần là kiến giải của người dịch nhằm giúp các độc giả tiếp cận có hệ thống hơn bài viết cũng như tư tưởng của Chomsky.

1. Đặt vấn đề

Sự lưỡng phân “ngữ năng” (competence) và “ngữ hành” (performance) của N.Chomsky có liên hệ từ sự lưỡng phân “ngữ ngôn” (langue) và “lời nói” (parole) của F.de Saussure. Điều đáng nói là không ít sinh viên vẫn thường chưa hiểu rõ sự liên hệ giữa hai cặp khái niệm này, dẫn đến nhiều khi đánh đồng chúng với nhau. Lí do của hiện trạng này là vì trong các tài liệu ngôn ngữ học hiện nay, nhiều tác giả do không minh định rõ sự khác biệt giữa chúng mà chỉ trình bày một cách sơ lược nên vô tình đã khiến nhiều độc giả cảm thấy bối rối, mập mờ (cf. Lyons 1996:93; Vũ Thị Thanh Hương et al. 2006:7). Vậy cụ thể “ngữ năng – ngữ hành” giống và khác gì với “ngữ ngôn – lời nói”? Đâu là sự cách tân của Ngữ pháp tạo sinh từ Cấu trúc luận của F.de Saussure? Cơ sở cũng như hệ quả phương pháp luận của chúng là gì? Bài viết này sẽ cố gắng làm sáng tỏ những khía cạnh trên.

2. Ngữ ngôn – lời nói và ngữ năng – ngữ hành

2.1. Bức tranh không rõ ràng về hai cặp phạm trù này có thể tìm thấy rất nhiều trong các tài liệu ngôn ngữ học. Ví dụ, trong Lyons (1996: 93) viết: “[…] Chomsky mới đây đã phỏng theo sự phân biệt đó mà đưa ra những từ ngữ “năng lực” (competence) và “sự thực hiện” (performance) ngôn ngữ”. Hay trong Vũ Thị Thanh Hương et al. (2006:7), trong lời giới thiệu cuốn sách, Lương Văn Hy viết: “Một tác động lớn của cấu trúc luận là sự phân định ngôn ngữ (langue) và lời nói (parole), xem ngôn ngữ là một sự kiện xã hội với những quy luật thuần nhất cho mỗi ngôn ngữ […] (Hơn nửa thế kỉ sau, nhà ngôn ngữ học nổi tiếng Noam Chomsky cũng có hai khái niệm cơ bản tương đồng, năng ngôn [linguistic competence] và ngôn hành [linguistic performance] với khác biệt chính là năng ngôn được xem là có nguồn gốc ở yếu tố di truyền, có tính phổ quát cho con người nói chung, thay vì là một sự kiện xã hội)[1].  Ý kiến của Lương Văn Hy tuy có nói lên một khía cạnh khác biệt giữa ngữ năng (competence) và ngữ ngôn (langue) là nguồn gốc, song giống với ý kiến của John Lyons, chúng đều rất sơ lược và không nói lên được điểm khác biệt cốt lõi của hai khái niệm này, đó là khía cạnh về bản thể luận. Đây cũng chính là tiêu điểm mà chúng ta sẽ tập trung thảo luận trong những phần tiếp theo.

2.2. Một trong những công lao của Saussure với ngôn ngữ học đại cương đó là việc bóc tách bản thể ngôn ngữ, vốn trước đó vẫn chỉ được coi là một khối “ngôn ngữ” (langage) chung chung, ra thành hai bộ phận cụ thể là “ngữ ngôn” (langue) và “lời nói” (parole). Trong Giáo trình ngôn ngữ học đại cương (viết tắt: Giáo trình), Saussure lần lượt phân biệt ngôn ngữ (langage) với ngữ ngôn (langue), ngữ ngôn (langue) với lời nói (parole).

Nhưng ngôn ngữ (langue) là gì? Đối với chúng tôi, nó không đồng nhất với hoạt động ngôn ngữ (langage)[2]. Nó chỉ là một bộ phận nhất định của hoạt động ngôn ngữ tuy là bộ phận cốt yếu […] Nhìn chung toàn bộ, hoạt động ngôn ngữ vốn đa dạng và kỳ lạ; nó đã cưỡi lên nhiều lĩnh vực, vừa vật lý, vừa sinh lý, vừa tâm lý, lại còn liên quan đến lĩnh vực cá nhân, lĩnh vực xã hội nữa; không thể đem xếp nó vào một phạm trù nào của các sự kiện nhân loại, vì người ta không biết làm thế nào để xác định tính thống nhất của nó.

Ngược lại, ngôn ngữ tự nó là một thể hoàn chỉnh và một nguyên lý phân loại […]”(cf. Saussure 2005: 43-44).

Tách ngôn ngữ ra khỏi lời nói, người ta đồng thời cũng tách luôn: 1. Cái gì có tính chất xã hội với cái gì có tính chất cá nhân; 2. Cái gì có tính chất cốt yếu với cái gì có tính chất thứ yếu và ít nhiều ngẫu nhiên […]” (cf. Saussure 2005: 50)

Sự phân biệt giữa ngữ ngôn – lời nói đã đánh dấu một bước phát triển mới trong tiến trình nhận thức của con người về hiện tượng ngôn ngữ nói chung và phương pháp luận nghiên cứu ngôn ngữ nói riêng. Theo đó, việc nghiên cứu ngôn ngữ gồm hai bộ phận: một bộ phận chủ yếu nghiên cứu về ngữ ngôn, và một bộ phận thứ yếu nghiên cứu về lời nói. Với Saussure, ngôn ngữ học chỉ có thể là ngôn ngữ học của ngữ ngôn mà thôi (cf. Saussure 2005: 60). Đây chính là xuất phát điểm của ngôn ngữ học trường phái Geneva. Nó đã tác động không nhỏ lên phương pháp luận của một loạt các trường phái ngôn ngữ học hậu Saussure trong đó có Tạo sinh luận của N.Chomsky.

2.3. Trong Lý thuyết chuẩn (Standard Theory) được trình bày trong Các bình diện của lý thuyết cú pháp (1965) của mình, Chomsky đề ra sự phân biệt giữa ngữ năng (competence) – ngữ hành (performance) như là khởi điểm của việc nghiên cứu ngôn ngữ. Ngữ năng là kiến thức ngôn ngữ (knowledge of language) của những người nghe – người nói lý tưởng trong khi đó ngữ hành chính là việc sử dụng ngôn ngữ trên thực tế, trong những tình huống cụ thể. Kiến thức ngôn ngữ được hiểu ở đây không mang tính có ý thức (như kiến thức nấu ăn, đi xe đạp .v.v.) mà là những tri thức mang tính vô thức (như “kiến thức” đi đứng, nhìn, ngửi .v.v.). Một người Việt không cần biết quy tắc tạo câu hỏi vẫn có thể sử dụng câu hỏi một cách bình thường.

9780262530071

Các bình diện của lý thuyết cú pháp (1965)

Đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học là ngữ năng, tức tập hợp những tri thức ngôn ngữ mang tính vô thức (subconscious) (cf. Radford 2004:7). Việc quan sát ngữ hành có thể đóng vai trò nào đó trong việc cung cấp bằng chứng cho lý thuyết ngôn ngữ – một thực thể tâm lý (mental reality) nhưng không thể là đối tượng nghiên cứu đích thực của ngôn ngữ học. Ở đây, Chomsky không giấu giếm sự kế thừa của mình từ Saussure cặp khái niệm “langue – parole” (cf. Chomsky 1965:4). Lời nói cũng giống như ngữ hành không phải là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học vì nó mang tính chủ quan. Ngữ liệu có được từ lời nóingữ hành bị chi phối bởi quá nhiều yếu tố ngoài ngôn ngữ (extra-linguistic) mà nhà nghiên cứu khó có thể kiểm soát được (trí nhớ người nói, thời tiết, thói quen .v.v.). Nên cho dù mối quan hệ giữa lời nói – ngữ ngôn có như “hai mặt của một tờ giấy”; còn ngữ hành, nói theo Chomsky, là hình ảnh phản chiếu ngữ năng (nhưng là một “hình ảnh không hoàn hảo”) thì đối tượng nghiên cứu đích thực của ngôn ngữ học vẫn phải là ngữ ngôn và ngữ năng.  Qua đây có thể thấy rằng, nội hàm lời nói của Saussure gần như trùng khít với nội hàm ngữ hành của Chomsky.

2.4. Tuy nhiên, lí do Chomsky phản đối hệ thuật ngữ của Saussure là vì nội hàm ngữ ngônngữ năng khác nhau. Trong Giáo trình, Saussure định nghĩa ngữ ngôn như là một hệ thống, hay một tập hợp có cấu trúc các dấu hiệu (signs) mang tính tâm lý gồm hai mặt sở biểunăng biểu. Ông nhắc đi nhắc lại luận điểm này rất nhiều lần (cf. Saussure 2005: 52, 53, 222, 231 .v.v.). Từ việc coi bản chất của ngữ ngôn là một kho dấu hiệu, nói cách khác, một “kho từ” mang tính thiết chế xã hội, Saussure dường như đã coi việc tạo câu (sentence formation) là hiện tượng thuộc về địa hạt lời nói, tức một hiện tượng cá nhân (hoặc nói như Chomsky là lằn ranh giữa ngữ ngôn và lời nói) và hệ quả là ngôn ngữ học cấu trúc luận (structural linguisitcs) chỉ tập trung miêu tả hệ thống từ ngữ mà xem nhẹ việc miêu tả những quy tắc tạo câu ẩn sau bức màn của từ ngữ.  Chomsky đã phê phán cách tiếp cận thiên lệch này của Saussure. Ông viết:

Nói chung, các nhà miêu tả luận hiện đại ít để ý đến khía cạnh “sáng tạo” của ngôn ngữ; họ tránh các vấn đề liên quan tới miêu tả hệ thống các quy tắc tạo sinh nối kết các mô tả cấu trúc với các phát ngôn tùy ý; những quy tắc biểu hiện cho kiến thức ngôn ngữ cũng như ngữ năng trong đó của người nói”. (cf. Chomsky 1964: 23).

Nói cách khác, trong khi Ngôn ngữ học Cấu trúc luận của F.de Saussure chỉ quan tâm chủ yếu đến câu hỏi cấu trúc của một hệ thống ngôn ngữ như thế nào, thì Tạo sinh luận chủ yếu tập trung trả lời cho câu hỏi: con người có thể nói được những gì vì sao con người có được khả năng đó. Giả thiết của Tạo sinh luận là con người có khả năng tạo ra vô hạn các câu đúng ngữ pháp (tức một cộng đồng ngôn ngữ nào đó hoàn toàn chấp nhận). Tuy nhiên, khả năng hữu hạn của trí óc con người rõ ràng không cho phép chúng ta ghi nhớ một bộ “từ điển” vô hạn các câu như thế. Vì vậy, chắc chắn phải tồn tại một bộ quy tắc hữu hạn (finite) giúp con người có được khả năng “sáng tạo” ngôn ngữ đó.  Chomsky gọi bộ quy tắc đó là ngữ năng, tức tập hợp các quy tắc mang tính tâm lý giúp con người có thể tạo sinh ra vô hạn các câu đúng ngữ pháp (grammatical).

Như vậy, mặc dù có cùng bản chất tâm lý như nhau song nếu như hình dung việc sử dụng ngôn ngữ là việc kết hợp các đơn vị (từ, ngữ) với nhau để tạo ra các biểu thức ngôn ngữ (câu/phát ngôn) thì đối tượng nghiên cứu của Cấu trúc luận chính là bản thân các đơn vị đó và giá trị (value) của chúng trong hai mối quan hệ hệ hình (paradigmatic)cú đoạn (syntagmatic); còn đối tượng Tạo sinh luận lại là các quy tắc giúp ta có thể cấu tạo (form) và giải nghĩa (interprete) các biểu thức ngôn ngữ. Điều cần tránh hiểu nhầm ở đây đó là tập hợp các quy tắc giúp tạo sinh câu không đơn thuần chỉ là những quy tắc cú pháp. “Ngữ pháp” theo truyền thống chỉ bao hàm “từ pháp” và “cú pháp”. Tuy nhiên, khái niệm “ngữ pháp” theo cách dùng của Chomsky thì rộng hơn, bao hàm ba bộ phận gồm: ngữ âm – cú pháp – ngữ nghĩa; trong đó, cú pháp đóng vai trò cầu nối giữa hai bộ phận còn lại. Tập hợp các quy tắc bao gồm các quy tắc của cả ba bộ phận trên. Nói cách khác, ngữ năng bao hàm kiến thức ngôn ngữ của người nói-người nghe lý tưởng trên cả ba bình diện ngữ âm – cú pháp – ngữ nghĩa. Từ điểm xuất phát này, trong những phiên bản tiếp theo của ngữ pháp Tạo sinh mà gần đây nhất là Chương trình Tối giản luận (Minimalist Program) (cf. Chomsky 1993,  1995), Chomsky đã làm rõ hơn khái niệm về ngữ năng (ông dùng thuật ngữ mới là “I-language”) như là một tập hợp các quy tắc bên cạnh một bộ phận khác gọi là Danh sách (Lexicon). Danh sách được hiểu như là một tập hợp các từ/đơn vị từ vựng trong một ngôn ngữ cùng những tính chất ngôn ngữ học (ngữ nghĩa, cú pháp, ngữ âm) của chúng (cf. Radford 2004: 9). Danh sách và các quy tắc (rules) chính là hai thành tố đóng vai trò “đầu vào” (input) của bộ phận cú pháp (syntactic component). Sự tương đồng rõ rệt giữa nội hàm danh sách (lexicon) của Chomsky và ngữ ngôn (langue) của Saussure như là một hệ thống tín hiệu hai mặt thực sự cho phép chúng ta nghĩ rằng, ngữ ngôn chính là danh sách theo cách hiểu của Tạo sinh luận. Theo đó, có thể khẳng định rằng, ngữ năng (tức quy tắc) là sự bổ sung của Chomsky vào học thuyết ngữ ngôn của Saussure. Nói cách khác, toàn bộ lý thuyết của Chomsky chính là sự kế thừa ngữ ngôn (tức danh sách) và mở rộng học thuyết về ngữ ngôn của Saussure bằng việc thêm cho nó một đối tượng nghiên cứu mới: các quy tắc thuộc về ngữ năng.

2.5. Tư tưởng cách tân của Chomsky được khơi nguồn từ W.von Humboldt, người cho rằng nhiệm vụ cao cả của ngôn ngữ học là phải trả lời được câu hỏi như thế nào và vì sao con người có thể tạo ra “vô hạn cách dùng từ những phương tiện hữu hạn” (“make infinite uses of finite means”). Tại sao con người có thể nói hoặc hiểu những câu mà chính họ thậm chí chưa từng bao giờ nghe hoặc nói ra? Hạn chế của Cấu trúc luận Saussure theo Tạo sinh luận là không nhìn thấy sự phong phú đáng ngạc nhiên của việc tạo sinh câu. Nói cách khác, Saussure và môn đệ của mình đã không quan tâm đến khía cạnh “sáng tạo” của ngôn ngữ. Sự khác biệt trong cách hiểu bản thể ngôn ngữ của Humboldt và Saussure, theo nhà triết học ngôn ngữ Voloshinov, cũng chính là sự đối lập giữa hai xu hướng triết học ngôn ngữ chủ đạo, chủ nghĩa chủ quan cá nhân (Humboldt) và chủ nghĩa khách quan trừu tượng (Saussure). Theo đó, trong khi chủ nghĩa chủ quan cá nhân coi ngôn ngữ là hoạt động sáng tạo mang tính cá nhân thì chủ nghĩa khách quan trừu tượng lại xem ngôn ngữ như là một hệ thống dấu hiệu tĩnh tại của một cộng đồng ngôn ngữ (cf. Voloshinov 2015[3]).

2.6. Cũng xuất phát từ sự khác biệt trong cách hiểu ngữ năng ngữ ngôn, Tạo sinh luận và Cấu trúc luận có cách lý giải khác nhau cho rất nhiều vấn đề quan yếu khác (ngoài đối tượng nghiên cứu) trong đó nổi bật là vấn đề thụ đắc ngôn ngữ (language acquisition) ở trẻ em. Theo Cấu trúc luận, việc thụ đắc ngôn ngữ chỉ là một cơ chế mang tính kinh nghiệm. Ngữ ngôn là một kho từ và trẻ em dần dần ghi nhớ kho từ này trong đầu, sau đó là sử dụng chúng. Whitney (1872), người có ảnh hưởng rất lớn đến Saussure, từng phát biểu:

Ngôn ngữ trong nghĩa cụ thể …[là]…tập hợp các từ ngữ mà nhờ nó con người có thể diễn đạt ý nghĩ của mình. [….] Việc thụ đắc ngôn ngữ ở trẻ em không có gì là bí ẩn cả. […] Một đứa trẻ, sau khi nghe một từ nào đó nhiều lần, sẽ dần học được ý nghĩa của từ đó và sau đó là cách phát âm lẫn cách dùng nó.”(cf. Chomsky 1964:22)

Trong khi đó, Tạo sinh luận lại thấy rằng việc trẻ em có thể thụ đắc được bất kì ngôn ngữ tự nhiên nào trên thế giới (tiếng Anh, tiếng Việt .v.v.) không đơn giản như thế. Đó thực sự là một điều kỳ diệu. Trẻ em có thể học được ngôn ngữ mặc cho môi trường ngôn ngữ xung quanh nó có nghèo nàn và đầy rẫy những khiếm khuyết đến mức nào. Làm sao chúng có thể biết được tất cả những quy tắc tạo sinh câu đúng từ những ngữ liệu chúng nghe được từ môi trường? Trẻ em không thể nào thu nạp tất cả những quy tắc tạo sinh câu đúng từ môi trường ngôn ngữ xung quanh đầy rẫy những khiếm khuyết[4]. Vậy một phần ngữ năng phải đến từ một nguồn khác. Chomsky gợi ý “nguồn khác” ở đây chính là sinh học và gọi phần ngữ năng được nạp vào trong não của đứa trẻ từ trước khi nó ra đời là Ngữ pháp Phổ quát (Universal Grammar). Ngữ pháp Phổ quát là chung cho tất cả ngôn ngữ loài người. Việc cất giữ Ngữ pháp Phổ quát lẫn thu nạp Ngữ pháp cá biệt (Particular Grammar), tức ngữ pháp của một ngôn ngữ cụ thể nào đó có được nhờ tiếp xúc giữa Ngữ pháp Phổ quát với môi trường ngôn ngữ bên ngoài, đều được thực hiện thông qua một cơ quan sinh học nằm trong não bộ mà Chomsky gọi là Thiết bị Thụ đắc Ngôn ngữ (Language Acquisition Device). Tóm lại, việc thụ đắc ngôn ngữ ở trẻ em theo Tạo sinh luận là một cơ chế mang tính bẩm sinh (innate). Đây cũng chính là một minh họa rõ nét cho sự tương phản giữa hai cách tiếp cận của chủ nghĩa duy lí (Tạo sinh luận) và chủ nghĩa kinh nghiệm (Cấu trúc luận Geneva) trong ngôn ngữ học nói chung.

3. Kết luận

Tóm lại, Tạo sinh luận của Chomsky phản đối cách hiểu đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học như là một tập hợp các thành tố, một kho dấu hiệu, tức ngữ ngôn của Saussure mà thay vào đó là tập hợp các quy tắc tạo sinh và kiến giải câu, tức ngữ năng. Hiểu rõ bản chất của ngữ ngôn – lời nói của Saussure cũng như ngữ năng – ngữ hành của Chomsky là hiểu rõ xuất phát điểm khác nhau của hai trường phái ngôn ngữ học lớn nhất hiện nay là Cấu trúc luận và Tạo sinh luận và một phần nào đó là cả Chức năng luận (trường phái coi đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học phải là lời nói – ngữ hành). Hiểu rõ sự khác biệt này cũng sẽ giúp ta tránh được sự hiểu nhầm không đáng có trong việc nhận diện và đánh giá những gia tài ngôn ngữ học hiện đại đã thừa hưởng từ vị cha đẻ của nó – Ferdinand de Saussure./.

 Chú thích

[1] Ngữ năng có một phần bẩm sinh, tức ngữ pháp phổ quát (Universal Grammar) nhưng cũng có phần xã hội. Phần xã hội của ngữ năng thể hiện ở chỗ nó chỉ được kích hoạt bởi những tiếp xúc từ môi trường ngôn ngữ, tức “kinh nghiệm – xã hội”. Trong những phần sau chúng ta sẽ làm rõ hơn những điểm này.

[2] Trong bài này tôi sử dụng hệ thuật ngữ của Nguyễn Thiện Giáp (2012), theo đó “ngôn ngữ” – “ngữ ngôn” – “lời nói” lần lượt tương ứng với “hoạt động ngôn ngữ” – “ngôn ngữ” – “lời nói” trong bản dịch của Cao Xuân Hạo và tương ứng với “langage” – “langue” – “parole” của F.de Saussure (1916).

[3] Xem thêm V.N. Voloshinov, Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ (Ngô Tự Lập dịch), NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2015.

[4] Lập luận này có tên gọi Sự nghèo nàn của các kích thích (the Poverty of Stimulus). Xem thêm Legate, Julie; Yang, Charles (2002). “Empirical re-assessment of stimulus poverty arguments”The Linguistic Review (19): 151–162

Tài liệu tham khảo

  1. Chomsky, N. (1957). Syntactic structures. Mouton.
  2. Chomsky, N. (1964). Current issues in linguistic theory. Mouton & Company.
  3. Chomsky, N. (1965). Aspects of the theory of syntax. M.I.T. Press.
  4. Chomsky, N. (1995). Minimalist Program. MIT Press.
  5. Lyons, J. (1996). Nhập môn ngôn ngữ học lý thuyết. (Vương Hữu Lễ dịch). NXB Giáo dục.
  6. McGilvray, J. et al. (2005). The Cambridge Companion to Chomsky. Cambridge University Press.
  7. Nguyễn Thiện Giáp. (2012). Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ. NXB Giáo dục Việt Nam.
  8. Radford, A. (2004). Minimalist syntax: Exploring the structure of English. Cambridge University Press.
  9. Saussure, F. de. (2011). Course in General Linguistics: Edited by Perry Meisel and Haun Saussy. (W. Baskin, Trans.). Columbia University Press.
  10. Saussure, F. de. (2005). Giáo trình ngôn ngữ học đại cương (Cao Xuân Hạo dịch). NXB Khoa học xã hội.
  11. Trịnh Hữu Tuệ. (2014). Bài giảng môn Cú pháp học, ĐHKHXH&NV.
  12. N. Voloshinov. (2015). Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ. (Ngô Tự Lập dịch). NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
  13. Vũ Thị Thanh Hương et al. (2006). Ngôn ngữ, văn hoá và xã hội: Một cách tiếp cận liên ngành (sách dịch). NXB Thế giới.

 

Ngày hôm qua, 24/3/2016, Tạ Chí Đại Trường, một trong những nhà sử học kiệt xuất nhất của Sử học Việt Nam, đã trút hơi thở cuối cùng, hoàn thành di nguyện “gửi nắm thân tàn” nơi đất mẹ.
Lâu nay, tác giả của “Những bài dã sử Việt”, “Thần, Người và Đất Việt”… và đặc biệt “Lịch sử nội chiến ở Việt Nam từ 1771 đến 1802″ luôn được coi là “must-confer-author” trong giới nghiên cứu lịch sử (history) Việt Nam trong lẫn ngoài nước. Và sự thực, ông được coi như là một trong “tứ trụ khác” của nền sử học Việt Nam, bên cạnh Nguyễn Phương, Lương Kim Định và Đào Duy Anh (thế hệ sử gia nổi tiếng trong giai đoạn trước 1975) theo như nhận định của Lê Minh Khải, tức GS. Liam Kelly (Đại học  Hawaii – Manoa), một học giả nước ngoài nghiên cứu lịch sử – sơ sử Việt Nam nổi tiếng trong bài viết “Global Scholarship and the Four Other Pillars of History in Vietnam” (2015) đăng trên blog của mình. Cá nhân tôi thấy bài viết  “The-Four-Other-Pillars” này của Lê Minh Khải rất thú vị, đặc biệt với câu hỏi tu từ có một vế câu điều kiện mà ông viết trong đoạn đầu bài:

[…] “as I read their writings, I can’t escape wondering what the state of historical scholarship, particularly scholarship about early history, would be like today if these four had set the foundation for future generations of historians”.

Câu này, trong bản tiếng Việt, được Hà Hữu Nga dịch như sau:

[…] “khi tôi đọc các công trình của họ, tôi không thể không băn khoăn tự hỏi tình trạng học thuật lịch sử, đặc biệt là học thuật lịch sử sớm liệu có như ngày hôm nay nếu bộ tứ này đặt được nền móng cho thế hệ các sử gia tương lai”.

Không bàn về phương diện ý nghĩa học thuật của nhận định trên mà bàn về phương diện dịch thuật, câu hỏi tu từ của Lê Minh Khải đặt ra một thách thức không nhỏ trong việc hiểu và chuyển dịch nó sang tiếng Việt sao cho tối ưu.

lsnc

Trước tác kinh điển nhất của sử gia Tạ Chí Đại Trường (21/6/1938 – 24/3/2016)

Điều đầu tiên có thể dễ nhận ra, “early history” không nên bị dịch là “lịch sử sớm” vì đây là một khái niệm rất cơ bản trong sử học, nó chỉ giai đoạn chuyển giao giữa “tiền sử” (“prehistory” – “giai đoạn quá khứ không được ghi chép thành văn nên hầu như chỉ có thể được nghiên cứu dựa vào tư liệu khảo cổ”) và “lịch sử” (“history” – “giai đoạn quá khứ được ghi chép trong các bộ sử liệu, có thể được nghiên cứu dựa vào cả tư liệu khảo cổ lẫn văn tự”). Các nhà sử học Việt Nam lâu này vẫn dịch “early history”“sơ sử” nhưng không hiểu sao một người trong ngành Sử như bác Nga lại dịch là “lịch sử sớm” ? Không hiểu “lịch sử muộn” của Việt Nam thì như thế nào?

Thứ hai, xem xét cách dịch vế câu điều kiện “if these four had set the foundation…” sang tiếng Việt, dễ dàng nhận ra đây là câu điều kiện loại 2 trong tiếng Anh, mô tả một sự việc phản thực hữu (counterfactual), tức không có thật trong thực tại. Đại ý câu hỏi tu từ này có thể diễn dịch lại như sau: Nếu như bộ tứ (Trường – Phương – Anh – Định) xây được nền móng cho việc nghiên cứu sơ sử của VN thì nền sử học sơ sử VN hiện tại sẽ ra sao? Trên thực tế, “tứ trụ khác” trên đã không, hoặc rất ít, chú tâm tới giai đoạn sơ sử của Việt Nam cho nên những học giả như Lê Minh Khải hay Keith W. Taylor bây giờ mới được đóng vai làm cao bồi tung hoành riêng một miền hoang dã là “Early History of Vietnam” (tức “lịch sử” VN giai đoạn từ thời Hùng Vương đến cuối Bắc thuộc)! Cách dịch của bác Hà Hữu Nga tuy hơi khó hiểu, song có thể chấp nhận được, nếu như không có chữ “nếu như”.

Trong tiếng Việt, “nếu/nếu như/giá như .v.v.” là chỉ tổ của câu điều kiện. Bác Nga hẳn biết điều này. Tuy nhiên, bác Nga hẳn không biết/chưa biết sự khác nhau giữa “nếu như” và “giá như” trong vai trò làm chỉ tố câu điều kiện tiếng Việt. Nôm na ta có thể hiểu thế này: “giá như” ý chỉ một điều không có thực ở hiện tại hoặc quá khứ còn “nếu như” biểu thị ý nghĩa rộng hơn, bao hàm một điều không có thực ở hiện tại, quá khứ lẫn một điều là quy luật hoặc có thể trở thành hiện thực. Nói vắn lại, “nếu như” có thể ứng với tất cả loại câu điều kiện trong tiếng Anh song “giá như” chỉ có thể ứng với câu điều kiện loại 2 hoặc 3 (hoặc hỗn hợp giữa 2,3). Hãy so sánh (1) với (2):

(1) Nếu như anh ấy không đến, cô ấy sẽ rất vui.

(2) Giá như anh ấy không đến, cô ấy sẽ rất vui.

Ta có thể nói:

(3) Nếu như anh ấy không đến, cô ấy sẽ rất vui. Hôm đó, cô ấy rất vui.

Nhưng khó có thể nói:

(4) *Giá như anh ấy không đến, cô ấy sẽ rất vui. Hôm đó, cô ấy rất vui.

Chính vì sự khác biệt này mà người ta vẫn thường diễn đạt một ước mong vô vọng bằng “giá như” : “giá như cô ấy vẫn còn yêu tôi…”.
Tóm lại, không phải bác Nga dịch sai mà đây chỉ là vấn đề “to-pay attention-or-not-to- pay-attention” đến ngôn ngữ mình sử dụng mà thôi. Nếu là một người để tâm đến tiếng Việt hơn, người đó  hẳn sẽ dùng “giá như” trong trường hợp này thay vì “nếu như” bởi  đơn giản, “giá như” sẽ hay hơn.

——–

Côn Minh (Vân Nam), 25/3/2016.

 

 

 

[…] “Tôi muốn gửi gắm 2 điều, một liên quan đến học thuật và một liên quan đến đạo đức. Thông điệp học thuật tôi muốn nhắn nhủ là: khi bạn nghiên cứu bất cứ vấn đề gì hay lĩnh vực nào, hãy tự hỏi bản thân xem đâu là dữ kiện (facts) và chân lí đằng sau dữ kiện đó là gì. Đừng bao giờ sa vào những tín điều mà chính ta muốn bản thân ta phải tin hay chính ta tin rằng xã hội sẽ hưởng lợi nếu tin vào chúng. Hãy chỉ xem xét đến dữ kiện mà thôi.[…] Còn thông điệp đạo đức tôi muốn nhắn nhủ thật đơn giản: tình yêu thì khôn ngoan, hận thù thì khờ dại.  Trong thế giới hiện tại, khi con người mỗi ngày một xích lại gần nhau hơn, chúng ta phải học cách bao dung người khác. Chúng ta phải học cách chấp nhận sự thực là chắc chắn ai đó rồi sẽ nói những điều làm phật lòng chúng ta. Chúng ta chỉ có thể sống cùng nhau bằng cách ấy; nếu như chúng ta thực sự muốn sống cùng nhau thay vì muốn chết cùng nhau. Chúng ta phải học cách thương người và bao dung người. Đó mới thực là điều cần nhất để sự sống loài người còn có thể tiếp diễn trên hành tinh này.” *Interview of Bertrand Russell (1872-1970), British philosopher and mathematician and Nobel laureate, on BBC’s Face to Face (1959)

 (Diễn từ của Ayn Rand1 nhân lễ tốt nghiệp ở Học viện Quân sự West Point Hoa Kì ngày 6 tháng 3 năm 1974)

Vì tôi là một nhà văn, nên chúng ta hãy bắt đầu với một câu chuyện siêu siêu ngắn. Giả sử bạn là một phi hành gia. Phi thuyền của của bạn bỗng nhiên mất kiểm soát và rơi xuống một hành tinh xa lạ nào đó. Khi bạn lấy lại bình tĩnh và thấy rằng mình không bị xây xát gì nhiều thì 3 câu hỏi đầu tiên đập vào đầu bạn sẽ là : Tôi đang ở đâu? Làm sao tôi có thể biết được điều đó? Và tôi nên làm gì?

Bạn đưa mắt nhìn quanh thấy toàn là những thứ cây cối lạ lùng, vẫn có không khí để thở tuy ánh mặt trời có hơi xám hơn và lạnh hơn so với ánh mặt trời trong trí nhớ của bạn. Bạn ngẩng đầu lên nhìn bầu trời rồi bất giác dừng lại. Một cảm giác kì lạ xâm chiếm bên trong bạn : nếu như bạn không nhìn thấy gì, bạn sẽ thôi phải biết rằng bạn có lẽ đang ở rất rất xa với Trái đất và không có cách nào để trở về đó nữa; rằng một khi bạn không biết gì về nó, bạn sẽ tin thoải mái vào bất cứ điều gì bạn muốn bạn tin – và rồi bạn bỗng cảm thấy bảng lảng một niềm hy vọng, vừa dễ chịu nhưng cũng vừa tội lỗi một cách khó hiểu.

Bạn ngoái lại nhìn vào những công cụ (instrument) mang theo : chúng có thể đã bị hư hại nhưng bạn không biết ở mức nào, có nghiêm trọng hay không. Bạn ngừng lại, một nỗi sợ hãi bất ngờ chạy loạn khắp cơ thể : Làm sao bạn có thể tin tưởng vào những công cụ này chứ? Làm sao bạn có thể tin chắc là chúng sẽ không lừa dối bạn ? Làm sao bạn có thể biết liệu chúng có sử dụng được hay không trong một thế giới khác? Thế là bạn vứt chúng đi.

Lúc này bạn bắt đầu tự hỏi tại sao mình lại không chút khát khao làm bất cứ một việc gì. Dường như  an toàn hơn rất nhiều nếu bạn chỉ ngồi đợi, đợi một điều gì đó chưa biết xảy ra; tốt hơn hết là đừng mó máy đến cái phi thuyền mà làm gì – bạn nhủ thầm. Rồi từ đằng xa tiến lại chỗ bạn một vài sinh vật sống; bạn không hề biết liệu chúng có phải là người hay không, ngoại trừ việc chúng cũng đi bằng hai chân. Chính chúng – bạn quyết định – sẽ là người nói cho bạn biết phải làm việc gì.

Chắc các bạn đang nghĩ đây chỉ là câu chuyện trên mây?  Bạn nghĩ là bạn sẽ chẳng đời nào rơi vào hoàn cảnh như thế mà cũng sẽ chẳng có phi hành gia nào phải như vậy hết? Vâng, có thể là không. Nhưng đó lại chính là cái cách mà đa số loài người chấp nhận để sống cuộc sống của họ, ngay ở đây, trên Trái đất này.

Cho đến lúc họ đủ già để hiểu những câu hỏi đó, loài người đa số vẫn tin rằng họ đã biết câu trả lời. Tôi đang ở đâu ư ? Ừ thì ở New York City. Làm sao để tôi biết điều đó ư? Nó hiển nhiên vậy mà. Tôi nên làm gì ư? Đến đây thì họ sẽ ngập ngừng – mặc dù câu trả lời thường sẽ là : bất cứ việc gì mà mọi người làm. Vấn đề duy nhất ở đây có vẻ như là họ không có chút gì chủ động, tự tin hay hạnh phúc với những câu trả lời đó – và dường như họ đã đang phải trải qua một nỗi sợ không có lí do và một mặc cảm tội lỗi mơ hồ mà họ không thể giải thích hay vứt bỏ chúng.

Họ không bao giờ khám phá ra một điều rằng những vấn đề đó có nguồn gốc từ ba câu hỏi họ chưa thực sự trả lời – và rằng chỉ có duy nhất một ngành khoa học có thể trả lời giúp họ ba câu hỏi đó : triết học.

Triết học là ngành khoa học nghiên cứu bản chất cơ bản (fundamental) của tồn tại (existence), con người (man) và mối liên hệ giữa con người và tồn tại. Khác với những ngành khoa học đặc thù đi giải quyết những khía cạnh cụ thể, triết học đi giải quyết những khía cạnh trừu tượng trên (nd : tồn tại – con người) của cái vũ trụ mà tất cả mọi thứ đang tồn tại trong đó. Trong địa hạt nhận thức (cognition), những ngành khoa học đặc thù là cây cối mọc lên chính từ “đất mẹ” triết học.

Triết học sẽ không nói cho bạn, tỉ dụ những việc như bạn có đang ở New York City hoặc Zanzibar hay là không (tuy nó sẽ cho bạn những phương tiện để trả lời). Nhưng đây sẽ là thứ nó nói cho bạn biết: bạn có đang ở trong một vũ trụ được vận hành bởi những quy luật thiên nhiên và vì vậy mà (vũ trụ) ổn định, bền vững, tuyệt đối2 và khả tri hay không? Hay là bạn đang ở trong một mớ hỗn độn, chao đảo, đầy những điều kì diệu không thể giải thích, một núi bỏng bong không thể tiên đoán, bất khả tri mà trí óc bạn bất lực không thể nắm bắt? Liệu mọi thứ bạn thấy quanh mình có là thực hay chỉ là ảo ảnh? Liệu chúng có tổn tại độc lập với người quan sát chúng hay chúng chỉ là tạo vật của chính người quan sát chúng?  Chúng là khách thể hay chủ thể của ý thức con người? Chúng có như chúng-như-là (are they what they are) – hoặc chúng có thể bị thay đổi chỉ nhờ một hành động của ý thức của bạn, như một ước nguyện chẳng hạn, hay không?

Bản chất những hành động và hoài bão của các bạn sẽ là khác nhau, vì tập hợp câu trả lời mà bạn chấp nhận (cho những câu hỏi trên) là khác nhau. Những câu trả lời này chính là phạm vi của siêu hình học (metaphysics) – nhánh căn bản của ngành triết học có nhiệm vụ nghiên cứu tồn tại, hoặc nói theo cách của Aristotle là, “tồn tại-như là-tồn tại” (being qua being).

Cho dù kết luận cuối cùng bạn đạt được là gì đi nữa, bạn vẫn sẽ phải đối mặt với nhu cầu thiết yếu đó là phải trả lời câu hỏi hệ quả : Làm sao tôi biết được điều đó?  Vì con người không phải là giống loài toàn năng – không thể mắc sai lầm, nên các bạn sẽ phải khám phá những thứ mình cho là có thể xem như là tri thức và cách làm sao để chứng minh chân trị (validity) của những kết luận của các bạn. Liệu con người lĩnh hội được tri thức thông qua một quá trình lí tính – hay chỉ là nhờ sự phát lộ đột ngột từ một sức mạnh siêu nhiên nào đó? Liệu lý trí có phải là một cơ quan cho phép phát hiện và hợp nhất cái vật chất được cung cấp bởi giác quan con người – hay nó chỉ là thứ được nuôi dưỡng bởi những ý tưởng mang tính bẩm sinh được cấy vào đầu óc con người ta từ trước khi được sinh ra đời ? Liệu lý trí có đủ khả năng để tri nhận thực tại – con người liệu có thực sở hữu một số những cơ quan tri nhận khác có khả năng vượt trên cả lý trí? Liệu con người có thể đạt đến sự xác định3 (certainty) – hay sẽ mãi rơi trong vực thẳm của sự nghi ngờ ?

Mức độ tự tin cũng như thành công của các bạn cũng sẽ khác nhau tùy theo tập hợp câu trả lời mà các bạn chấp thuận cho những câu hỏi trên. Những câu trả lời này là địa hạt của nhận thức luận (epistemology), lý thuyết về tri thức, có nhiệm vụ nghiên cứu các phương tiện (mean) nhận thức của con người.

Siêu hình học (metaphysics) và nhận thức luận (epistemology) là hai nhánh làm cơ sở lý thuyết cho triết học. Nhánh thứ ba – luân lí học (ethics) – có thể coi như là một ngành ứng dụng của triết học. Luân lí học không áp dụng cho tất cả mọi thứ tồn tại trên đời – nó chỉ áp dụng cho loài người – nhưng nó lại áp dụng vào tất cả mọi khía cạnh của đời sống con người : tính cách, hành động, giá trị4 của anh ta và quan hệ của anh ta với tất cả sự tồn tại. Luân lí học, hay còn gọi là đạo đức học, xác định một mã các giá trị dẫn dắt các hành động và lựa chọn của con người – những lựa chọn và hành động sẽ chi phối đường hướng cuộc đời anh ta.

Người phi hành gia trong câu chuyện của tôi đã không biết mình nên làm gì vì anh ta đã từ chối trả lời câu hỏi anh ta ở đâu và bằng cách nào anh ta biết điều đó. Bạn cũng sẽ giống anh ta – sẽ không thể biết bạn nên làm gì – cho tận đến khi nào bạn biết được bản chất của cái vũ trụ mà bạn đang đối mặt là gì, biết được bản chất các phương tiện nhận thức là gì và biết được bản chất của chính bạn là gì. Trước khi bạn đi vào luân lí học, nhất quyết bạn phải trả lời cho bằng được những câu trả lời mà siêu hình học và nhận thức luận đã đặt ra cho bạn : liệu con người có phải là giống loài có lý trí, có khả năng đối mặt được với thực tại – hay anh ta chỉ là một kẻ quái dị mù quáng một cách bất lực – một hạt bụi nhỏ nhoi bị mớ hỗn độn của vũ trụ xoay vần? Tùy thuộc vào câu trả lời của bạn mà bạn có thể tiếp tục xem xét những câu hỏi tiếp theo của luân lí học : cái gì là tốt/xấu đối với con người – và tại sao? Liệu mối quan tâm chủ yếu của con người nên là làm sao để tìm được lạc thú – hay là – làm sao để thoát khỏi khổ đau? Liệu con người nên coi sự thỏa mãn bản thân hay là nên coi sự tự hủy hoại bản thân như là cứu cánh của cuộc đời? Liệu con người nên tìm hạnh phúc hay là kiếm sự hy sinh nơi chính bản thân mình?

Tôi không hề cần phải chỉ ra những hệ quả khác nhau của hai tập hợp câu trả lời trên. Vì các bạn có thể thấy chúng ở khắp mọi nơi – ngay bên trong các bạn và xung quanh các bạn.

Những câu hỏi mà luân lí học trả lời cũng sẽ quyết định đến cách người ta đối xử với người khác như thế nào. Và cũng chính nó sẽ quyết định tới nhánh thứ tư của triết học : chính trị (politics) – thứ có nhiệm vụ xác định những nguyên tắc của một hệ thống xã hội đúng nghĩa. Như là một ví dụ cho chức năng của triêt học, triết học chính trị sẽ không nói cho các bạn biết khí gaz nên được hạn chế cho mỗi người khoảng bao nhiêu và vào ngày nào trong tuần – nó sẽ chỉ nói cho các bạn biết liệu chính phủ có được quyền thiết lập bất cứ hạn chế nào lên bất cứ thứ gì hay không mà thôi.

Nhánh thứ năm và cũng là nhánh cuối cùng của triết học đó là mỹ học (esthetics), ngành khoa học nghiên cứu nghệ thuật dựa trên cơ sở siêu hình học, nhận thức luận và luân lí học. Nghệ thuật giải tỏa những nhu cầu – nhu cầu nạp năng lượng sống – cho ý thức con người.

Giờ thì một vài người trong số các bạn có thể hỏi lại, như nhiều người, rằng : “Nhưng mà tôi chưa bao giờ suy nghĩ những thứ trừu tượng như thế cả – tôi chỉ muốn giải quyết những vấn đề cụ thể, chi tiết và có thực trong đời sống thôi – tôi cần quái gì đến triết học cơ chứ?” Câu trả lời của tôi là : Cần (triết học) để có khả năng giải quyết được những vấn đề cụ thể, chi tiết và có thực trong đời sống – ví dụ như cần để có thể sống được trên trái đất này vậy.

Các bạn cũng có thể nói – như đa số người ta vẫn nói – rằng các bạn chưa hề bị triết học tác động đến một chút nào hết! Tôi sẽ yêu cầu các bạn kiểm chứng lại điều đó ngay. Này nhé, các bạn đã bao giờ nghĩ trong đầu hay nói những câu đại loại như thế này chưa? “Đừng quả quyết thế – Không ai có thể kiên định bất cứ điều gì”. Nếu có thì các bạn đã tập nhiễm nó từ David Hume (và rất nhiều nhiều triết gia khác), cho dù có thể bạn chưa từng nghe đến tên ông ấy trong đời. Hay như : “Cái này chỉ có thể thực hiện trên lý thuyết thôi, không áp dụng thực tế được đâu” – thì các bạn mượn nó từ Plato. Hoặc : “Đó thật là một việc làm đáng ghê tởm, nhưng con người mà, không ai hoàn hảo trên thế giới này cả” – các bạn mượn từ Augustine. Hoặc : “Điều đó có thể đúng với bạn, nhưng với tôi thì không” – đó là các bạn mượn từ William James. Hoặc : “Tôi không thể chịu đựng nó thêm nữa! Không ai có thể chịu đựng bất cứ thứ gì họ làm cả!” – các bạn mượn từ Hegel. Hoặc : “Tôi không thể chứng minh được nó đúng, nhưng tôi cảm thấy nó đúng” – các bạn mượn từ Kant. Hoặc : “Theo logic thì là vậy, nhưng logic không thể áp dụng thực tế được đâu” – các bạn mượn nó từ Kant. Hoặc: “Nó thật xấu xa, vì nó thật ích kỷ” – các bạn vẫn nhiễm nó từ Kant. Hoặc liệu bạn đã từng nghe những nhà hoạt động chính trị hiện đại nói như thế này chưa : “Hành động trước, nghĩ sau đi!” – các bạn biết sao không : họ mượn nó từ John Dewey.

Một vài người khác cũng có thể nói : “Chắc chắn rồi, tôi đã từng phát biểu những điều đó ở những thời điểm khác nhau, nhưng tôi không cần phải lúc nào cũng phải tin vào chúng. Vì nó có thể đúng ở ngày hôm qua nhưng ngày hôm nay thì không.” – đó là mượn từ Hegel. Họ có thể nói : “Sự kiên định là con yêu tinh của những cái đầu nhỏ bé” – thì họ đã tiêm nhiễm nó từ một cái đầu siêu nhỏ bé đó là Emerson. Họ có thể nói : “Nhưng người ta không thể thỏa hiệp và mượn những ý tưởng khác biệt nhau từ những triết thuyết khác biệt vì lợi ích chốc lát được đúng không?” – Họ mượn nó từ Richard Nixon – người mượn nó từ William James.

Plato ( 427 BC –  347 BC) và Aristotle (384 BC – 322 BC)               

Bây giờ thì hãy tự vấn lại mình : nếu như bạn không có hứng thú đối với những thứ tư tưởng trừu tượng, tại sao bạn (và tất cả người khác) vẫn cảm thấy buộc lòng phải sử dụng chúng? Sự thực là những tư tưởng trừu tượng kia, chúng là những thể hợp nhất5 (integration) về khái niệm của vô số những thứ cụ thể; và sự thực là nếu như không có những tư tưởng trừu tượng kia, bạn sẽ không bao giờ có thể giải quyết được những vấn đề cụ thể, riêng biệt và có thực trong đời sống. Khi đó, bạn sẽ chỉ như một đứa bé mới sinh, mà với nó, mọi thứ trên đều là những hiện tượng đơn nhất, hoàn toàn tách biệt nhau, không hề có liên quan đến nhau mà thôi. Sự khác biệt giữa trạng thái tinh thần của một đứa bé và của bạn nằm  chính ở số lượng những thể hợp nhất khái niệm mà trí óc của bạn có thể thực hiện được.

Bạn không thể không cần đến sự hợp nhất những quan sát, những trải nghiệm, tri thức của bạn vào những ý niệm trừu tượng hay những nguyên tắc khái quát. Lựa chọn duy nhất của bạn đó là giá trị đúng sai của những nguyên tắc kia hay liệu chúng có là hiện thân cho những phán đoán lý trí, có ý thức của bạn hay chúng chỉ là những chiếc thùng chứa những khái niệm mà bạn không biết rõ nguồn gốc, chân trị, hoàn cảnh hay hệ quả của nó được gom lại ngẫu nhiên; và chính chúng, rất có thể một ngày, sẽ bị bạn vứt đi không thương tiếc một khi bạn thực sự hiểu vấn đề.

Nhưng những nguyên tắc khái quát mà bạn chấp nhận (một cách có ý thức hoặc vô thức) đó có thể xung đột nhau hoặc thậm chí phủ định nhau. Khi đó, chúng cũng cần một thể hợp nhất nhất định nào đó. Cái gì sẽ hợp nhất chúng? Chính là triết học. Mỗi một hệ thống triết học chính là một thế giới quan của tồn tại (view of existence) được hợp nhất.

Vì thuộc về loài người nên sự thật là bạn sẽ không thể không cần đến triết học. Lựa chọn duy nhất của bạn là nên để bạn quyết định nền triết học của bạn bằng một quá trình tư duy lí tính, có ý thức và có cân nhắc logic một cách nghiêm cẩn; hay là để mặc cho vô thức của mình chất chồng những đống tạp nhạp của những kết luận vô lí, những tổng quát sai lầm, những mâu thuẫn mơ hồ, những câu khẩu hiệu vô hồn, những ao ước bất định, những nghi hoặc và sợ hãi quăng vào với nhau một cách ngẫu nhiên nhưng lại được vô thức của bạn hợp nhất thành một thứ triết học hỗn tạp, một thứ mặc cảm nặng nề, khô cứng – giống như xiềng xích chằng chịt ở nơi đáng lý ra phải để cho đôi cánh lý trí của bạn tung bay.

Bạn có thể nói, giống như nhiều người khác, rằng đâu dễ để lúc nào cũng làm theo được những quy tắc trừu tượng. Đúng, nó không dễ. Nhưng bạn có biết rằng, một khi thực hiện theo những quy tắc trừu tượng mà không biết bản chất của chúng còn khó hơn gấp bội lần không?

Vô thức của bạn giống như một cỗ máy tính vậy – dĩ nhiên đó là nó còn phức tạp hơn cả những cỗ máy thực thụ mà con người có thể nghĩ ra – và chức năng chính của nó là hợp nhất các ý niệm (idea) mà bạn có. Ai lập trình cho nó? Chính là ý thức của bạn. Nếu như bạn để mặc nó, nếu như bạn chưa đạt tới bất cứ một khái niệm chắc chắn nào, vô thức của bạn sẽ được lập trình một cách ngẫu nhiên – và bạn sẽ có trong mình sức mạnh của những ý niệm mà bạn không hề biết là bạn đã chấp nhận chúng. Tuy nhiên, bằng cách này hay cách khác, cỗ máy tính của bạn sẽ vẫn hằng ngày, hằng giờ cho ra những “thành phẩm” trong hình hài những xúc cảm – chúng nhanh như chớp sẽ làm nhiệm vụ ước đoán, tính toán những thứ xung quanh bạn tùy theo giá trị mà bạn chọn (một cách vô thức). Nếu như bạn lập trình cỗ máy của bạn bằng tư duy có ý thức, bạn sẽ biết được bản chất những giá trị và cảm xúc của bạn. Nếu bạn không làm điều đó, kết quả theo đó cũng sẽ ngược lại.

Rất nhiều người, đặc biệt là trong thời đại ngày nay, hùng hồn cho rằng con người không thể sống nếu chỉ dựa vào logic, rằng luôn có yếu tố cảm xúc trong bản chất của anh ta, và rằng họ luôn tin tưởng để cho cảm xúc của họ đưa đường chỉ lối cho họ. Đó, người phi hành gia trong câu chuyện ban đầu của tôi cũng giống như vậy đó. Trò cười ở anh ta và những người giống anh ta là ở chỗ những giá trị và cảm xúc của con người lại được quyết định bởi thế giới quan cơ bản của người ta. Lập trình viên cuối cùng cho vô thức của anh ta chính là triết học – ngành khoa học mà những nhà duy cảm luận bảo rằng bất lực trong việc ảnh hưởng hay hiểu thấu những điều diệu kì phức tạp của xúc cảm.

Chất lượng đầu ra (output) của cỗ máy vô thức được quyết định bởi chất lượng của thứ đầu vào (input). Nếu như vô thức của bạn được lập trình một cách ngẫu nhiên thì đầu ra của nó chắc chắn sẽ có cùng một đặc tính tương ứng. Chắc bạn đã từng nghe đến thuật ngữ trong ngành máy tính : “gigo” – viết tắt của “garbage in, garbage out” (tạm dịch: đầu vào là rác thì đầu ra cũng sẽ là rác). Công thức này cũng vẫn đúng khi áp dụng cho mối quan hệ giữa tư duy của một người và cảm xúc của anh ta.

Một người bị chi phối bởi cảm xúc thì giống như một người bị chi phối bởi một cái máy tính mà những “bản in thành phẩm” của nó – không thể nào anh ta đọc được. Anh ta không hề biết liệu chương trình của nó chạy có đúng hay là sai, liệu nó sẽ đưa anh đến thành công hay là dìm anh xuống thất bại, liệu nó có thực nghe lời anh không hay là nó đang ngấm ngầm đưa đường cho quỷ dữ? Tóm lại anh ta sẽ bị mù từ cả hai phía : một là thế giới ngoại tại xung quanh anh ta và một là chính thế giới nội tại bên trong anh ta. Anh ta sẽ không thể nắm bắt được thực tại hay những động cơ hành động của anh ta và suốt đời anh ta sẽ co quắp trong nỗi kinh hãi từ cả hai thế giới đó. Xúc cảm không phải là công cụ để nhận thức. Những người không có hứng thú với triết học thường chính là những người cần đến xúc cảm một cách cấp thiết nhất, và đa số họ lực bất tòng tâm để mặc cho nó kiềm tỏa.

Tuy nhiên sự thực là những người bảo không thích thú gì với triết học vẫn ngày ngày hấp thu những quy tắc của nó từ bầu không khí văn hóa xung quanh anh ta như : trường phổ thông, đại học, sách vở, báo chí, phim ảnh, ti vi..v.v. Ai đã khơi dòng cho những giai điệu văn hóa đó chảy trong cuộc sống? Chẳng ai khác ngoài một nhúm người gọi là triết gia! Số triết gia đó có thể được phân làm 2 loại : môn đệ và thủ lĩnh. Các môn đệ thường là người đi theo một ít người gọi là thủ lĩnh cho dù vô tình hay hữu ý. Trong hai trăm năm qua, dưới ảnh hưởng bao trùm của Immanuel Kant, một trào lưu thống trị trong triết học đã được định hình và phát triển duy chỉ vì một mục đích :  sự hủy diệt (destruction) lý trí con người trong sự tin tưởng vào lý trí của anh ta. Ngày nay, chúng ta đang được chứng kiến cái chóp đỉnh huy hoàng của trào lưu đó.

Khi người ta bỏ quên lý trí, họ sẽ nhận ra không chỉ có việc cảm xúc của họ không thể đưa đường chỉ lối cho họ được mà họ còn không thể cảm thấy bất cứ cảm xúc nào ngoài sự kinh hãi. Sự bùng phát nạn sử dụng ma túy trong giới trẻ được giới thiệu như là một xu thế của trí thức ngày nay – minh chứng cho một trạng thái nội tại quá giới hạn chịu đựng của những con người bị cướp đi phương tiện nhận thức, những con người đang kiếm tìm cho mình một sự giải thoát thực tại – giải thoát khỏi nỗi kinh hãi khi nghĩ đến sự bất lực của họ trước thực tại. Hãy nhìn những người trẻ tuổi đó và quan sát nỗi khiếp sợ sẽ đánh mất độc lập cá nhân của họ, quan sát khát khao rồ dại luôn muốn mình “thuộc về”, luôn muốn gia nhập một tổ chức, bang hội nào đó của họ. Đa số họ chắc chắn chưa bao giờ nghe đến từ triết học nhưng họ chắc chắn cảm nhận được nhu cầu bức thiết cần những câu trả lời căn bản cho những câu hỏi mà họ chưa từng dám đặt ra cho mình – và họ hy vọng rằng bang hội của mình sẽ nói hộ cho họ biết họ phải sống như thế nào. Họ luôn sẵn sàng để bị thôi miên bởi bất cứ một tiến sĩ ma thuật nào, một ‘guru’6 nào hay một kẻ độc tài nào. Một trong những việc làm nguy hiểm nhất đối với một con người đó là để sự độc lập tinh thần (moral autonomy) của mình phải đầu hàng trước những kẻ khác: cũng giống như phi hành gia của tôi, anh ta không biết liệu họ có phải là người hay không nữa, cho dù họ cũng đi bằng hai chân.

Bây giờ bạn có thể hỏi : nếu triết học xấu xa đến thế thì liệu người ta nghiên cứu nó phỏng có ích lợi gì? Và nhất là, tại sao người ta phải đi nghiên cứu những học thuyết triết học sai lạc một cách hiển nhiên, chẳng có nghĩa lý gì và chẳng có liên hệ gì với thực tế cuộc sống?

Câu trả lời của tôi là : Để tự bảo vệ mình – để bảo vệ cho chân lí, công bằng, tự do hay bất cứ giá trị nào mà bạn có thể đã từng có hoặc có thể sẽ có.

Không phải tất cả mọi triết gia đều là quỷ dữ, cho dù sự thật là, đặc biệt trong lịch sử hiện đại, rất nhiều trong số họ là vậy. Nhưng nhìn ở một góc cạnh khác, bạn sẽ tìm thấy nơi cội rễ của mọi thành tựu văn minh loài người, như khoa học, công nghệ, sự phát triển, tự do – nơi cội rễ của tất cả những giá trị mà chúng ta đang được thừa hưởng ngày hôm nay, trong đó có sự ra đời của Hợp chúng quốc Hoa Kì này đóng góp to lớn của một triết gia, một con người, người đã sống cách chúng ta hơn hai ngàn năm trước : hiền triết Aristotle.

Nếu như bạn chỉ cảm thấy buồn chán khi đọc những lý thuyết gần như vô giá trị của một số triết gia nào đó, tôi sẽ đồng cảm với bạn sâu sắc việc đó. Nhưng nếu như vì đó mà vứt hết chúng đi, bảo rằng : Tại sao tôi phải nghiên cứu những cái của nợ ấy một khi tôi biết chúng vô nghĩa? – Bạn đang nhầm lẫn rồi đấy. Chúng vô nghĩa, nhưng bạn sẽ không hề biết chúng vô nghĩa một khi bạn còn chưa chấp nhận tất cả luận kết của chúng, chấp nhận tất cả những cụm từ chìa khóa cay độc được tạo sinh bởi những triết gia đó, một khi bạn còn chưa có khả năng phủ định chúng.

Cái sự vô nghĩa đó giải quyết một trong những vấn đề cốt lõi nhất của sự tồn tại của con người – đó là vấn đề sự sống-hay-cái chết (life-or-death). Nơi cội rễ của tất cả mọi triết thuyết đáng chú tâm đến đều có một vấn đề chính đáng – theo cái nghĩa đó là có một nhu cầu nguyên bản (authentic need)  của ý thức con người mà một số triết thuyết này thì cố gắng hết sức soi rọi chúng, một số khác thì lại làm phức tạp hóa vấn đề, phá vỡ và ngăn cản con người ta khám phá ra nó. Cuộc chiến của những triết gia là cuộc chiến vì tư duy con người. Nếu như bạn không am hiểu những triết thuyết của họ, bạn sẽ rất yếu đuối và dễ bị tổn thương ngay cả đối với người kém cỏi nhất trong số họ.

Cách tốt nhất để nghiên cứu triết học đó là cái cách thường được áp dụng với truyện trinh thám : theo dõi mọi dấu vết, manh mối và ẩn ý để khám phá ra ai là kẻ sát nhân và ai là người anh hùng. Tiêu chí để phát hiện ra nó gồm 2 câu hỏi : Tại sao (Why) và Bằng cách nào (How). Nguyên lí đã cho có vẻ như là đúng – thế thì vì sao? Nếu như một nguyên lí khác có vẻ như là sai – thì vì sao và làm cách nào để chứng minh nó sai?  Bạn sẽ không dễ tìm ra được mọi câu trả lời ngay lập tức, nhưng cứ liên tục đặt câu hỏi như vậy, bạn sẽ dẫn có được một đức tính vô giá : khả năng tư duy căn bản.

Không gì được ban tặng cho con người một cách tự nhiên, kể cả tri thức lẫn sự tự tin, sự bình tĩnh nội tại hay cả cái cách thức đúng đắn để sử dụng tư duy của mình. Tất cả những giá trị anh ta cần hay muốn đều cần phải được khám phá, học hỏi và thu nạp – ngay cả cách đứng hay ngồi cho đúng tư thế cũng vậy. Nhân tiện đây, tôi muốn chia sẻ một điều đó là tôi luôn ngưỡng mộ phong thái của các học viên trường West Point này, cái phong thái cho thấy sự kiêu hãnh của con người và sự làm chủ cơ thể nghiêm cẩn của anh ta. Vâng, luyện tập triết học cũng sẽ cho con người ta một phong thái của trí thức – cái phong thái cho thấy sự làm chủ lý trí nghiêm cẩn và tự hào của anh ta.

Trong chính nghề nghiệp của các bạn – khoa học quân sự, chắc hẳn các bạn biết tầm quan trọng của việc phát hiện ra dấu hiệu vũ khí, chiến lược và chiến thuật của quân địch – và tầm quan trọng của việc chuẩn bị ứng phó chúng. Triết học cũng như vậy : các bạn phải luôn am hiểu tường tận những quan điểm của kẻ địch và phải luôn sẵn sàng ‘phản pháo’ chúng, các bạn phải luôn biết được lập luận cơ bản của họ và có khả năng phản bác chúng.

Trong chiến tranh, bạn sẽ chẳng bao giờ cử người của bạn đến chỗ có bẫy mìn : thay bởi đó, bạn sẽ nỗ lực hết sức để tìm ra vị trí những bẫy mìn đó. Vâng, hệ thống của Kant chính là bẫy mìn lớn nhất và phức tạp nhất trong lịch sử triết học – tuy nhiên, nó lại đầy những lỗ trống đến mức một khi bạn đã nắm trọn các thủ thuật của nó trong tay, bạn có thể dễ dàng phủ định nó và bước qua ‘xác’ nó một cách an toàn tuyệt đối. Và, một khi nó đã bị phủ định, những học thuyết ít mùi Kant hơn – những thuộc cấp của ‘đại tướng’ Kant, những hạ sĩ quan, những binh nhì hay lính đánh thuê triết học của thời đại ngày nay – sẽ tự ngã quỵ theo phản ứng dây chuyền vì sự vô trọng lượng của chính chúng.

                                      Immanuel Kant (1724 – 1804)

Có một lí do đặc biệt giải thích tại sao các bạn, những lãnh đạo tương lai của quân đội Hoa Kì, cần phải được “vũ trang triết học” ngay từ hôm nay. Đó là vì các bạn chính là mục tiêu của một cuộc tấn công đặc biệt do những thành phần cuồng đạo theo Chủ nghĩa Tập thể6 (collectivism) của Kant hay Hegel thống trị khắp các kinh viện hàn lâm của chúng ta ngay ở thời điểm hiện tại. Các bạn chính là quân đội của đất nước bán tự do (semi-free) cuối cùng trên trái đất này, và chính vì thế mà các bạn bị buộc tội là công cụ cho Chủ nghĩa Đế quốc (imperialism ). Chủ nghĩa Đế quốc – đó là chính cái tên được đặt cho chính sách ngoại giao của đất nước này, đất nước chưa bao giờ dính líu đến những cuộc hành binh quân sự, đất nước chưa bao giờ hưởng lợi lộc từ hai cuộc chiến tranh thế giới, những cuộc chiến mà nó không hề phát động, tuy đã bước vào và giành chiến thắng. (Nhân tiện, phải nói rằng đó là một chính sách quá rông lượng một cách ngờ nghệch, việc khiến cho đất nước này đã phải lãng phí sự giàu có của nó để giúp đỡ cho cả những đồng minh lẫn kẻ thù của nó.) […]

Ngày nay, tình thương cho những kẻ yếu đuối cùng sự quan tâm sướt mướt đến những người thiệt thòi, đau khổ hay lầm lỗi chính là vỏ bọc che giấu sự căm thù của chủ nghĩa Kant lên những người thuần khiết, mạnh mẽ, có khả năng, thành công, đức hạnh, tự tin và hạnh phúc. Một thứ triết học sinh ra để hủy hoại lý trí của con người phải là một thứ triết học căm thù con người, căm thù cuộc sống cũng như mọi giá trị của con người. Căm thù những thứ tốt đẹp vì sự tốt đẹp của chúng chính là đặc trưng ‘vĩ đại’ của thế kỉ 20. Đây chính là kẻ thù mà các bạn phải đối mặt.

Để đối phó với cuộc chiến sinh tử này, các bạn cần được trang bị những loại vũ khí đặc biệt. Và các bạn phải chiến đấu với sự am hiểu tuyệt đối những động cơ của các bạn, sự tự tin tuyệt đối vào bản thân và một sự kiên định tuyệt đối với sự đúng đắn về đạo đức của cả hai điều đó. Chỉ có triết học mới có thể cung cấp cho bạn những loại vũ khí đó. Nghĩa vụ tôi đặt ra cho mình trước các bạn đêm nay không phải là rao rảng triết học của tôi mà đơn thuần chỉ là nói một chút về triết học như trên mà thôi. Tuy nhiên, tôi đã ngầm nói ra chính triết học của tôi một cách phi hiển ngôn cho các bạn trong từng câu chữ. Vì một lẽ không ai trong chúng ta và không một phát ngôn nào có thể thoát khỏi những tiền đề triết học (philosophical premise). Thế lợi ích cá nhận của tôi trong vấn đề này là gì? Tôi có thể đủ tự tin nghĩ rằng nếu như bạn chấp nhận tầm quan trọng của triết học và chấp hành nhiệm vụ xem xét nó một cách có phê phán, thì đến một lúc nào đó, cuối cùng bạn sẽ chấp nhận  triết học của tôi. Nói một cách chính xác thì tôi gọi nó là Chủ nghĩa Khách quan7 (Objectivism), nhưng nôm na thì bạn có thể hiểu tôi đang nói đến một thứ triết học dành cho sự sống trên trái đất này. Bạn sẽ thấy nó sáng rõ nếu như bạn đọc những cuốn sách của tôi, đặc biệt là cuốn Atlas nhún vai (Atlas Shrugged).[…]

Các bạn đã chấp nhận mạo hiểm cuộc sống của mình để bảo vệ đất nước này. Tôi sẽ không xúc phạm các bạn bằng cách bảo rằng các bạn hiến dâng nó vì mục đích của người khác – đó không phải là một đức hạnh trong đạo đức học của tôi. Trong đạo đức học của tôi, bảo vệ một đất nước đồng nghĩa với việc cá nhân một người nào đó không sẵn lòng chịu sống cuộc đời nô lệ cho bất cứ kẻ thù nào, dù là ngoại bang hay nội xâm. Đây mới chính là một đức hạnh vĩ đại. Một vài người trong số các bạn có thể không nhận ra nó một cách có ý thức. Tôi muốn giúp số đó nhận ra nó.

Quân đội của một đất nước tự do có một trách nhiệm vĩ đại: quyền sử dụng vũ lực, nhưng không phải với vai trò là công cụ để cho những cuộc xâm lược hay những cuộc hành binh tàn khốc  – giống như những quân đội của những quốc gia khác đã từng có trong lịch sử của họ – mà chỉ với vai trò là công cụ để tự bảo vệ một đất nước tự do, nó đồng nghĩa với việc bảo vệ các quyền cá nhân của con người. Nguyên tắc chỉ sử dụng vũ lực để phản lại chính những kẻ đã khơi mào việc sử dụng bạo lực là nguyên tắc thứ cấp có thể cần đính chính. Nhiệm vụ này cần đến lòng nhiệt thành và niềm kiêu hãnh ở mức cao nhất. Không một quân đội nào khác trên thế giới có được điều kiện điều đó. Các bạn thì có.[…]

                                                                                    –  quý Thu , 2012-

                                                                                                            ©Ngôn Thành*


[*] Tôi dành tặng bản dịch này trước hết cho chính tôi. Sau nữa xin dành tặng nó cho những người trẻ tuổi như tôi có lòng nhiệt thành muốn tìm hiểu nghiêm cẩn về triết học. Mong muốn của tôi không gì hơn đó là nó có thể nhen lên trong bạn một chút ánh lửa nào đó giúp sưởi ấm đôi tay bạn, đôi chân bạn, khối óc bạn và hơn hết là trái tim bạn trên con đường học thuật tít tắp, mênh mông, cô quạnh ; như nó đang đượm cháy trong tôi lúc này, ở đây (31/10/2012)

——

Các chú thích :

1 – Ayn Rand (1905 – 1982) : nữ triết gia, tiểu thuyết gia (tác giả của 2 cuốn tiểu thuyết nổi tiếng “Atlas nhún vai” – Atlas Shrugged và “Suối nguồn” – The Fountainhead) người Mĩ gốc Nga Do Thái , được xem như là một trong những nhà tư tưởng hàng đầu của chủ nghĩa tư bản thị trường tự do, chủ nghĩa cá nhân thế kỉ 20. Người khai sinh ra học thuyết Chủ nghĩa Khách quan (Objectivism).

2 – absolute (tuyệt đối) :

3 – certainty (xác định/kiên định) :

4 – value (giá trị) :

5 – integration (thể hợp nhất) :

6 – Collectivism (chủ nghĩa Tập thể) :

7 – Objectivism (Chủ nghĩa Khách quan) :

     “Tập san sử địa” là một trong những tập san học thuật Quốc ngữ đầu tiên của nước Việt Nam hiện đại. Nó là thành quả, công sức chung của tập thể các giáo sư, sinh viên Đại học Sư phạm Sài Gòn biên soạn từ năm 1966 đến năm 1975.
Tập san bao gồm tất cả là 29 số – trong đó, số cuối cùng – 29 – là một số báo vốn nổi tiếng bấy lâu vì đó là chuyên khảo đặc biệt nói về lịch sử, địa lý hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thân yêu của Tổ quốc!
Ngôn Thành xin đặc biệt giới thiệu tới tất cả mọi người tài liệu quý giá này!

                                                  Link download toàn bộ 29 số Tập san sử địa

ps : qua đây Ngôn Thành cũng muốn gửi lời cám ơn sâu sắc tới anh Duy Doan vì tấm lòng chân tình, không hề vụ lợi đã up link nguồn tư liệu vô giá này lên trang Đọc sách trên Facebook. Cám ơn anh và những người hết mình vì cộng đồng như  anh!

Đây là bài dịch đăng báo đầu tiên của Ngôn Thành, xin gửi tặng anh trai tôi ….

Rất nhiều người lính trẻ đã tự lên dây cót tinh thần mình trước trận chiến bằng cách nghe nhạc Rock n’ Roll hoặc Heavy Metal. Nhưng bạn có biết có bao nhiêu người vẫn ngâm nga giai điệu “Mẹ” của Pink Floyd cho cả quân địch “cùng nghe” giữa đêm khuya không ?…

“Khi mọi vật dường như chìm hết vào giấc ngủ, chúng tôi lại chơi đàn và hát “Mẹ à, mẹ có nghĩ nó sẽ bỏ bom đêm nay?“ 1 Abdulfatah Shaka, một anh lính 22 tuổi tâm sự khi vẫn kè kè khẩu súng rocket bên cạnh mình. “..Rồi lũ bắn tỉa lại tức điên lên và bắn loạn xạ khắp nơi…”: anh cười.

Đó là cái tuần cuối cùng của tháng 4, trong thành phố đang diễn ra giao tranh ác liệt nhất ở Libya – Misurata. Đây đúng là một cuộc chiến đúng chất kiểu cổ điển – diễn ra trên từng góc phố : vô cùng tàn bạo và đẫm máu…Qaddafi đã điều động cả xe tăng, giàn rocket, lực lượng bắn tỉa, cùng với bộ binh gồm cả lính đánh thuê đến nơi đây. Đối đầu với chúng chỉ là những người dân thường được vũ trang giản đơn, với xe tải kiểu Mad Max cùng niềm đam mê nhạc Rock ( như Shaka cùng những đồng chí của mình )…

Chưa đầy 3 tháng trước, Shaka còn là một sinh viên khoa chế tạo máy, chưa từng động đến một khẩu súng. Bassam Essraity, một anh chàng 23 tuổi với mái tóc rễ tre, ria tỉa gọn, người đang ôm khẩu súng trường Assault của Bỉ ngồi đối diện, thì đang học truyền thông. Họ ôn lại những kỉ niệm ngày trước, khi cùng nhau ngẫu hứng một bản ghita trên bãi biển, dạo quanh bãi đỗ xe vào buổi tối bằng xe hơi- mở toang cửa, trên tay là cốc café hay chai bia …

Sau khi mời tôi ngồi xuống bên trái anh ấy – cái tai phải của anh đã bị điếc đặc vì phản lực của khẩu súng Rocket anh đang cầm – Shaka kể về con đường đã dẫn anh đến với Pop, với Rock, với tiếng Anh – đó là nhờ Backstreet Boys. Rằng nhờ học ghita và mở rộng chân trời âm nhạc qua Internet mà “khẩu vị” giờ của anh đã tiến bộ hơn rất nhiều. “Giờ tôi chỉ thích Neil Young, Metallica và Pink Floyd, đặc biệt là album “Dark side of the Moon”…”2, anh tâm sự. “…Cả Iron Maiden và Nirvana nữa chứ…”3 Essraity thêm vào. “…Chúng tôi chỉ là những người trẻ yêu âm nhạc và khao khát tự do…”

Và rồi, vào tuần thứ 3 của tháng 2, Cách mạng nổ ra. Shaka noi gương bác của mình, người đã chiến đấu trong cuộc chiến Libya-Chad vào thập niên 80. Bác của Shaka cũng vác một khẩu phóng Rocket khi chiến tranh tràn qua Misurata này. Sau khi diệt gọn 2 xe tăng của Quaddafi, ông đã hy sinh. Khẩu phóng Rocket đó của ông ấy, vẫn còn in vệt máu trên báng, giờ đang nằm trong tay của chính Shaka. Essraity thì có một căn nhà đã bị xe tăng của Quaddafi húc đổ. Anh gia nhập với Shaka để cùng chiến đấu. Hazin “Haz” Bozaid, một người 29 tuổi có thân hình vạm vỡ với chòm râu dê, mặc một cái áo phông đen in hình Sepultura đang ngồi kế đó cũng thế. Anh ta là một nhà buôn, kiêm luôn cả vocal lẫn guitar chính trong một ban thrash – death metal địa phương có cái tên là Acacus. Anh tâm sự :” cảm hứng của tôi là Megadeth, Cannibal Corpse, Morbid Angel, Chuck Schuldiner’s Death…đại loại như thế. Mà không dễ để kiếm chúng ở Libya đâu…nên nếu ông bạn có được vài cái băng của họ thôi, ông bạn cũng sẽ giữ nó như giữ vàng!”4.

Ban đầu, đơn vị họ di chuyển liên tục quanh thành phố nên mang theo một chiếc ghita là một việc bất khả thi. Shaka đã buộc lòng phải bỏ lại chiếc đàn thùng của mình trong xe, cả chiếc ghita điện nữa – “một con Gibson, nhưng chỉ là Gibson Tàu thôi” –  ở nhà. Cả hai chúng đều bị lấy mất khi quân đội của Quaddafi tràn qua nơi anh sống. Họ cũng bắt luôn cả bố anh, người đến nay vẫn chưa có tin tức gì…

Từ vài tuần trước, người của Shaka đã cắm rễ được sâu hơn, họ đặt chốt nhiều hơn trên dọc đại lộ Tripoli Street, con đường chính dẫn vào thành phố, nơi mà quân bắn tỉa của Quaddafi vẫn ráo riết truy lùng họ hằng ngày. Chiến lược của quân Cách mạng đó là cô lập, bao vây quân bắn tỉa đồng thời chia cắt đường tiếp tế từ bên ngoài bằng cách khóa mọi con đường của chúng nhằm tiếp cận những công-te-nơ đầy súng ống ở cảng. Nhiệm vụ của Shaka là bắn cháy bất cứ xe tăng, xe bọc thép hay xe có vũ trang nào lảng vảng đến gần những chiếc công-te-nơ đó. Trước mỗi lần lên đạn, anh lại viết tên người bác mình lên khẩu súng. Còn với Bozaid, tay súng máy đã tiêu diệt ít nhất 25 tên địch, trước mỗi trận chiến đồng nghĩa với việc nghe Slayer gào thét từ chiếc smart phone của anh ấy. ”Một vài người bạn tôi khuyên tôi nên đọc kinh Koran…nhưng tôi thì chỉ cần có mỗi “liều thuốc tinh thần “ kia thôi”, anh cười lớn.

Ngược lại với Shaka, Essraity cùng những người bạn chiến đấu trong nhóm mình vẫn mang theo ghita. Khoảng thời gian tạm nghỉ giữa hai trận đánh là lúc họ chơi đàn, với Shaka làm vocal chính. Bozaid đùa rằng, giọng của anh ấy quá trầm cho bất cứ dòng nhạc nào ngoại trừ metal. Essraity, cũng là một tay ghita khá điêu luyện, đùa với những người bạn mình rằng : “Tớ giống Slash5 – Tớ không hát…”

Ngày qua ngày, số quân bắn tỉa bị loại khỏi vòng chiến đấu cứ tăng dần. Shaka và người của anh đột nhập từng khu nhà một theo từng cặp, cho nổ tung nóc nhà và “dọn dẹp” từng căn phòng bằng lựa đạn hoặc lốp xe tẩm xăng. Trong một cuộc đột kích vào một khu chung cư, anh đã tìm thấy một thứ ngoài mong đợi : một chiếc ghita bị gãy cần. Anh lật nó lên và thấy dòng chữ “The Wall”5. Đó là ghita của anh ấy.

“Tôi đã để lại đó, vì không có thời gian, hơn nữa mang theo nó cũng rất nguy hiểm”, anh kể.

Giờ đây, khi đại lộ Tripoli Street đã được hoàn toàn giải phóng, Shaka và người của anh đang tận hưởng một ngày nghỉ ngơi trước khi tiếp tục cuộc chiến ở nơi khác, trên mảnh đất quê hương mình. Bozaid nói về đại nhạc hội metal mà anh muốn tham dự khi Qaddafi bị lật đổ. ”Đó là giấc mơ của tôi – Hazfest”, anh nói.”Và một ngày nó sẽ trở thành sự thật, tất nhiên với điều kiện là tôi còn sống”.

Shaka buông súng và ôm lấy cây đàn…

“…em yêu, liệu em có đánh đổi…

trở thành một người lính…

hay làm một người dẫn đường trong hang tối ”6

“Mọi người cùng hát nào…” anh hào hứng.

“Ước gì, ước gì em có ở đây…” 7

 

—————

1: “Mother, do you think they’ll drop the bomb?” – lời bài hát Mother (Mẹ) trong album The Wall của Pink Floyd

2,3 : tên các ban nhạc Rock.

Pink Ployd : ban nhạc Progressive Rock trứ danh của nước Anh.

4: Slash – tay ghita lừng danh từng chơi cho ban Guns n’ Roses.

5 : The Wall – tên album thứ 11 của Pink Floyd

6,7 : “And did you exchange

a walk-on part in the war
for a lead role in a cage?

……

“How I wish, How I wish you were here”

lời bài hát “Wish you were here” trong album cùng tên của Pink Floyd. Ghi chú : bài hát này nguyên bản là lời nhắn nhủ đến cựu thành viên – người đồng sáng lập Pink Floyd – Syd Barrett. Những đại từ ở đây dịch theo cảm nhận của riêng người dịch dựa vào ngữ cảnh.11

Author : Xan Rice ( The Atlantic Magazine).

Link trên Rockpassion.vn

link gốc